Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Theo Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ dân cư trong độ tuổi lao động có thể phát triển bình thường; hoặc nguồn nhân lực là khả năng lao động, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Theo Liên Hợp quốc, “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Dưới cách tiếp cận nội dung của NNL, Ngành Thế giới đã chỉ ra rằng “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân” [4]. Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2019) cho rằng “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”[2]. Với cách tiếp cận này, NNL tập trung vào đầu ra, mang lại giá trị cho xã hội. Phạm Thị Minh Hằng (2019) đã chỉ ra rằng NNL chuyên môn là lao động đã qua đào tạo các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên môn, kỹ thuật, tham gia vào các công việc có mức độ lao động phức tạp trong tổ chức và mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp [9].
Cách tiếp cận này đi sâu vào lĩnh vực chuyên môn, tiếp cận dưới góc độ doanh nghiệp. Tuy có những định nghĩa khác nhau, nhưng NNL có những đặc điểm chung như: 6 - Số lượng nhân lực chính là quy mô lao động của một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực chính là sự tăng lên về số lượng có thể được thực hiện do việc tăng quy mô dân số hoặc tăng lượng dân nhập cư; - Chất lượng nhân lực được phản ánh thông qua trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực; - Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện như: Giới tính, độ tuổi, trình độ đào tạo… trong đó cơ cấu trình độ đào tạo được coi là quan trọng nhất, quyết định đến chất lượng NNL [10].
Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng có thể hiểu “Nguồn nhân lực là tổng hợp các yếu tố mà người lao động sử dụng trong hoạt động của mình nhằm tạo ra lợi ích vật chất, tinh thần cho xã hội”. Các yếu tố này bao gồm trí lực, thể lực và ý thức của người lao động. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định [8].
Qua thực tiễn cho thấy rằng: Để đảm bảo năng suất cao, giá thành hạ làm tăng lợi nhuận các nhà sản xuất không còn con đường nào khác là dành mọi ưu tiên hàng đầu cho chất lượng, chất lượng là chìa khóa đem lại phồn vinh và sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp và các quốc gia thông qua việc chiếm lĩnh thị trường phát triển kinh tế. Chúng ta đang đứng trước vận hội mới, nhưng cũng phải đối đầu với nhiều thách thức kinh doanh, phải 7 cạnh tranh với nhiều đối thủ mạnh hơn về tài chính, có trình độ sản xuất hàng hóa cao hơn và nhiều kinh nghiệm trên thương trường. Chính vì vậy các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp phải nỗ lực nhiều hơn nữa để rút ngắn các khoảng cách về kinh tế, bằng cách thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bằng sự học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các nước tiên tiến trên thế giới, thích nghi và đáp ứng tốt nhất các tín hiệu thị trường. Để có được điều đó chúng ta phải có những đội ngũ lao động có trình độ cao để thích nghi tiếp thu những công nghệ mới, để phối hợp một cách hệ thống các nguồn lực, từ đó đẩy mạnh sản xuất nâng cao chất lượng quá trình hoạt động của doanh nghiệp, nếu nguồn lực doanh nghiệp yếu kém sẽ không thích nghi được những công nghệ mới và phương pháp quản lý ngày càng đa dạng và tiên tiến, sẽ không theo kịp tiến độ phát triển chung của thế giới, bị ngưng trệ sẽ không tồn tại bền vững lâu dài trên thương trường.
Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững cần dựa vào ba yếu tố là áp dụng công nghệ mới, phát triển cơ cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực [4], [4]; [13], [14]. Như vây, cung như bất cứ lĩnh vực kinh doanh/lĩnh vực chuyên môn nào, lĩnh vực thi đua – khen thương cũng xác định chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề cốt lõi, có tính chất quyết định đến việc phát triển hiệu quả và bền vững của tổ chức, của đơn vị và của hệ thống. Vai trò của chất lượng nguồn nhân lực Ở bất cư quốc gia nào, lĩnh vực nào chất lượng nguồn nhân lực luôn đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển, điều đó được thể hiện qua các điểm sau đây: Một làt, NNL chất lượng cao là điều kiện quyết định đến trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Các lý thuyết tăng trưởng đã chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững ít nhất phải dựa vào khoa học công nghệ hiện đại, kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại và chất lượng nguồn nhân lực.
Trong đó, nhân tố quan trọng nhất là nguồn nhân lực 8 chất lượng cao, tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức tay nghề, kinh nghiệm và năng lực sáng tạo nhằm trở thành "vốn con người", "vốn nhân lực" [2]. Nhân lực chất lượng cao quyết định đến trình độ phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật của quốc gia. Nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động (từ lao động phổ thông sang lao động lành nghề và lao động có tay nghề cao), là động lực thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế xã hội. NNL chất lượng cao cho phép phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là những ngành công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao.
Vì vậy, nhân lực chất lượng cao giúp làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc gia theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp trong GDP. Hai lài, nhân lực chất lượng cao là điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện những bước nhảy vọt và rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, lạc hậu về khoa học công nghệ. Nếu như trước đây, một trong những nguyên nhân chủ yếu ngăn cản tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia là do tình trạng nghèo nàn về cơ sở vật chất, sự thiếu hụt nguồn vốn. thì ngày nay, trở ngại chủ yếu nhất được xác định chính là sự hạn chế về trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người.
Chất lượng nguồn nhân lực đã và đang chứng tỏ sức mạnh chi phối, quyết định bước tiến của các nền kinh tế. Sức bật của nền kinh tế được quyết định quan trọng bởi chất lượng nguồn nhân lực. Do đó, nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quan trọng trong việc thực hiện những bước nhảy vọt, giúp các quốc gia có thể rút ngắn về thời gian, kết hợp với những bước nhảy vọt, ứng dụng những thành tựu mới về khoa học công nghệ của thế giới. Trên cơ sở đó hướng đến phát triển nền kinh tế tri thức.
Ba là, nhân lực chất lượng cao là động lực thúc đẩy CNH, HĐH. Nhân lực chất lượng cao đảm bảo có hiệu quả cho mục tiêu phát triển CNH, HĐH đồng thời cũng là động lực của công cuộc CNH, HĐH bởi quá trình CNH, HĐH yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tốc độ phát triển cao của 9 lực lượng sản xuất xã hội. Các nguồn lực khác (ngoại trừ nguồn nhân lực) có thể rất phong phú dồi dào, nhưng nếu khai thác và sử dụng không hợp lý thì chúng sẽ trở nên cạn kiệt. Chỉ có nguồn lực con người với tiềm năng trí tuệ, chất xám luôn sinh sôi và phát triển không ngừng.
Hơn nữa, trí tuệ con người là vô tận. Nhờ có trí tuệ con người mà xã hội không ngừng phát triển, thế giới tự nhiên không ngừng được khám phá, cải tạo. Sự sinh tồn và vận hành của nhân loại đều do con người quyết định, số lượng của cải vật chất và chất lượng cuộc sống đều do chất lượng nguồn nhân lực quyết định. Bởi chỉ có nguồn nhân lực có chất lượng mới đủ "sức" tạo nên sự bứt phá về năng suất, chất lượng vận động kinh tế xã hội.
Điều đó thực sự thiết thực đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế bền vững. Bốn là, nhân lực chất lượng cao quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cuộc cạnh tranh quốc tế khác biệt trên nhiều lĩnh vực (bao gồm cạnh tranh về nguồn nhân lực) thì các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và môi trường chính trị xã hội ổn định sẽ có rất nhiều lợi thế. Nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quan trọng nhất bởi các nguồn lực tự nhiên chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, nếu không được con người khai thác trong quá trình lao động thì sẽ trở thành vô dụng, lao động, nhân lực con người là nguồn lực duy nhất có khả năng phát hiện, khơi dậy và cải biến các nguồn lực tự nhiên và xã hội khác [2], [7], [10].