Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Nguồn nhân lực Chương 2: Thực trạng phát triển Nguồn nhân lực tại Công ty Xăng dầu Bắc Tây Nguyên Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Xăng dầu Bắc Tây Nguyên 7. Téng quan tài liệu nghiên cứu Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực, chủ biên TS. Nguyễn Quốc Tuấn; đồng tác giả: TS. Đào Hữu Hòa, TS.
Nguyễn Thị Bích Thu, ThS. Nguyễn Phúc Nguyên, ThS. Nguyễn Thị Loan (2006). Giáo trình giới thiệu tổng quan về quản trị nguồn nhân lực.
Nội dung có tám chương và chương VỊI “Đào tao và phát triển nguồn nhân lực” đã trình bày một cách rõ ràng về nội dung, tiền trình, phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Luận án Tiến sĩ “Phát triển nguôn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tẾ” của tác Lê Thị Mỹ Linh (2009). Trong luận án tác giả đã hệ thống hóa và phát triển những lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dựa trên cơ sở lý luận, luận án đã chỉ ra và đánh giá những mặt còn tồn tại của thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm vai trò của chủ doanh nghiệp và chiến lược phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
Và trên cơ sở đó, luận án đã đề ra một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập nền kinh tế quốc tế. Luận văn thạc sĩ “Phát triển nguôn nhân lực tại Công ty Cổ phan LILAMA 7° của tác giả Thái Thảo Ngọc (2013). Trong luận văn tác giả đã khái quát được hệ thống lý luận về phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt là nội dung của phát triển nguồn nhân lực là phát triển các yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ thúc đây người lao động.
Thông qua cơ sở lý luận, tác giả đã phân tích thực trạng công ty. Trên cơ sở phân tích, tác giả đã nêu được những nguyên nhân dẫn đến mặt hạn chế và đề xuất những giải pháp gắn với nội dung phát triển nguồn nhân lực tại Công ty. Luận văn thạc sĩ “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Dịch vụ môi trường đô thị Đằng Nai đến năm 2020 "của tác giả Trần Võ Hoài Hương (2012). Luận văn đã nêu lên hệ thống lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực, trong đó phần nội dung tập trung vào số lượng, chất lượng, trình độ lành nghề, kỹ năng làm việc nhóm.
Luận văn chưa vạch ra cụ thê nội dung về thái độ nguồn nhân lực hay động lực thúc đẩy nguồn nhân lực. Tuy nhiên luận văn đã thực hiện điều tra, phỏng vấn chuyên sâu với quy mô lớn và có kết hợp phương pháp phân tích thông qua công cụ thống kê mô tả trên phần mềm SPSS. Từ đó đề xuất ra các giải pháp chỉ tiết để phát triển nguồn nhân lực của Công ty. Bài báo khoa học: “Đào ứqo nguồn nhân lực cho Tây Nguyên” của TS.Đặng Văn Mỹ, Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum: Bài báo này làm sáng tỏ nội dung thực trạng nguồn nhân lực tại Tây Nguyên chưa tương xứng, với những tiềm năng vốn có, đồng thời đưa ra những thách thức đối với công.
tác đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng trước yêu cầu phát triển bền vững của khu vực Tây Nguyên. Bài báo được tham khảo để đối chiếu, so sánh những điểm khác biệt giữa công tác đào tạo và công tác phát triển nguồn nhân lực. Bài báo khoa học: “Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguon nhân lực trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Long Giao trên Tạp chí Khoa học xã hội số 2(174) — 2013 đưa ra các nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực bao gồm có 5 yếu tố: Kinh tế - xã hội, Giáo dục và đào tạo, Khoa học và công nghệ, Truyền thống lịch sử và giá trị văn hóa, Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Bài báo có nêu ra các nhân tố ảnh hưởng nhưng, chỉ đề cập chung tới phát triển nguồn nhân lực của quốc gia mà chưa đi sâu vào một tô chức hay doanh nghiệp cụ thể.
Tóm lại, mối liên quan giữa các nghiên cứu trước với đề tài của tác giả là đều nói về phương hướng phát triển nguồn nhân lực của công ty. Riêng luận văn của chính tác giả là nêu rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, và đưa ra đánh giá về thực trạng phát triển nguồn nhân lực cần đáp ứng các mục tiêu Công ty Xăng dầu Bắc Tây Nguyên. Đồng thời đánh giá khả năng sẵn có về số lượng và chất lượng cán bộ công nhân viên trong hiện tại cũng như trong thời gian sắp tới. Với sự hạn chế về nguồn nhân lực đó, tác giả đưa ra các giải pháp đề phát triển nguồn nhân lực trong tương.
CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE NGUON NHAN LUC 1. TONG QUAN VE NGUON NHAN LUC 1. Một số khái niệm a. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực không giống như những nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất hay nguồn lực công nghệ mà đó là nguồn lực đặc biệt không thể thiếu, quyết định đến sự thành bại của tổ chức.
Trên thực tế, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu rất phức tạp và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế, Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tỉnh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội [1, tr.11] Trong phạm vi doanh nghiệp thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao.
gồm tất cả những người lao động làm việc trong tô chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [9, tr.8] Với cách tiếp cận khái niệm Nguồn nhân lực mang tính tổng hợp các đặc tính số lượng và chất lượng, tác giả sử dụng định nghĩa “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bắt cứ đặc điểm nào khác của người lao động” [10, tr] Khái niệm này được mô tả bởi quy mô và cơ cấu theo các đặc điểm giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề hay một đặc tính nào đó khác. Và nói đến nguồn nhân lực, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc mô tả quy mô của lực lượng này và cơ cấu theo các đặc tính dễ xác định như giới tính, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn xác định các thông tin về kỹ năng, kinh nghiệm, sự tận tâm, nỗ lực, tiềm năng sáng tạo. Phát triển nguồn nhân lực Thuật ngữ "Phát triển nguồn nhân lực (Human Resource Development - HRD)" được sử dụng đầu tiên bởi Harbison và Myers (1964) trong bối cảnh nguồn vốn con người hay phát triển con người. Sau này, nó đã được sử dung để xác định thành một phạm trù hay lĩnh vực chuyên môn về thực hành của Leonard Nadler tại Hội nghị Miami năm 1969 của Hiệp hội Đào tạo và Phát triển (ASTD) của Mỹ, và được ông đưa ra thành định nghĩa vào năm 1970.
Gilley và các đồng sự trong Nguyên tắc của Phát triển nguồn nhân lực thì: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình thúc đây việc học tập có tính tô chức, nâng cao kết quả thực hiện công việc, và tạo ra thay đổi thông qua việc tổ chức thực hiện các giải pháp (chính thức và không chính thức), các sáng kiến và các hoạt động quản lý nhằm mục đích nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, khả năng cạnh tranh và đổi mới”[13, tr.6- 7Ị Một số định nghĩa được cung cấp dưới đây để minh họa cho sự tiến triển, phức tạp và cách hiểu khác nhau về chủ đề này: Có quan điểm cho rằng Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính 10 năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa; truyền thống. lịch sử [1, tr. Trong tài liệu của TS. Nguyễn Quốc Tuấn cho rằng Phát triển nguồn nhân lực là một cách gọi phổ biển của chức năng đào tạo, phối hợp hoạt động.
đào tạo và phát triển trong tổ chức.“Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tông thể các hoạt động học tập có tô chức được tiến hành trong những. khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự thay đổi về hành vi nghề nghiệp cho. người lao động được thực hiện bởi doanh nghiệp” [10, tr.193] Theo khái niệm này thì nội dung phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đảo tạo và phát triển. Trong đó, giáo dục được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho.
con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyền sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai. Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao. động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.
Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Dao tao va phát triển tuy có sự giống nhau là đều trang bị kiến thức, ky năng cho người lao động nhưng thực chất là hai hoạt động khác nhau. Sự khác biệt này thê hiên ở bảng dưới đây: 11 Bảng 1. So sánh giữa đào tạo và phát triển “Tiêu chí Đào tạo.
Phát triên Tập trung.