Chương 1: Giới thiệu đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn. 4 ¾ Chương 2: Trình bày tổng quan về tình hình kinh doanh, nhân sự của MobiFone nói chung và Trung tâm Thông tin Di động Khu vực VI nói riêng. ¾ Chương 3: Trình bày cơ sở lý thuyết, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết. ¾ Chương 4: Trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo, mô hình lý thuyết và các giả thuyết đặt ra.
¾ Chương 5: Trình bày phương pháp phân tích kết quả và kết quả nghiên cứu. ¾ Chương 6: Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, ý nghĩa cũng như những hạn chế của đề tài và đưa ra các kiến nghị, đề xuất. 5 CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này giới thiệu các khái niệm, mô hình và giả thuyết đã được nghiên cứu trước. Từ đó, xây dựng các giả thuyết của mô hình nghiên cứu và thang đo sơ bộ cho đề tài.
Lao động (Labor) Lao động, trong kinh tế học, được hiểu là một yếu tố làm việc do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa. Người có nhu cầu về hàng hóa này là người làm việc. Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động. Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động (http://vi.
Lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tọa ra các dịch vụ phục vụ cho các nhu cầu của đời sống XH. Lao động là hoạt động đặc trưng nhất, là hoạt động sáng taọ của con người (http://kilobooks. Năng suất (Produtivity) Năng suất là một biện pháp đầu ra từ một quá trình làm việc, trên mỗi đơn vị đầu vào.
Ví dụ, năng suất lao động thường được đo như là một tỷ lệ sản lượng mỗi giờ lao động. Năng suất có thể được quan niệm như một thước đo hiệu quả kỹ thuật hoặc kỹ thuật làm việc. Như vậy, trọng tâm là về số liệu định lượng đầu vào, và đôi khi đầu ra. Năng suất được phân biệt với số liệu hiệu quả phân phối, có tính cả giá trị tiền tệ (giá) những gì được làm việc và chi phí đầu vào sử dụng, và cũng khác biệt từ các số liệu về lợi nhuận, giải quyết sự khác biệt giữa doanh thu thu được từ sản lượng và chi phí liên quan đến tiêu thụ của đầu vào) (http://en.org/wiki/Productivity).
Nhà kinh tế học Adam Smith (1723 – 1790) là tác giả đầu tiên đưa ra thuật ngữ năng suất vào năm 1776, trong một bài báo nói về hiệu quả làm việc phụ thuộc vào 6 số lượng lao động và khả năng làm việc của lao động. Trong một nghiên cứu khác của Sumanth (1997), thì cho rằng thuật ngữ năng suất đầu tiên được đề cập đến bởi một nhà toán học người Pháp là Quesnay trong một bài báo vào năm 1766. Đến năm 1883, một người Pháp khác là Littre, định nghĩa năng suất là “khả năng làm việc”. Sau đó thuật ngữ này được sử dụng khá thường xuyên khi phân tích các vấn đề về kinh tế.
Theo quan điểm truyền thống, khái niệm năng suất được hiểu một cách rất đơn giản. Đó là mối quan hệ (tỷ số) giữa các kết quả đầu ra với các đầu vào đã sử dụng để hình thành đầu ra đó (Trần Thị Kim Loan, 2008). Năng suất lao động (Labor Produtivity) Theo Wikipedia – bách khoa toàn thư (http://en.org) thì năng suất lao động là tỷ lệ (giá trị thực của) sản lượng đầu vào của lao động. Khi có thể, giờ làm việc, chứ không phải là số lượng người lao động, được sử dụng như là biện pháp đầu vào lao động.
Với sự gia tăng việc làm bán thời gian, giờ làm việc cung cấp các biện pháp chính xác hơn về đầu vào lao động. Năng suất lao động cần được diễn giải rất cẩn thận nếu sử dụng như một biện pháp hiệu quả. Đặc biệt, nó phản ánh hiệu quả hoặc năng suất của người lao động. Năng suất lao động là tỷ lệ sản lượng đầu vào lao động và đầu ra là bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài ảnh hưởng của người lao động, bao gồm cả tính chất, số lượng các thiết bị vốn có sẵn, việc giới thiệu công nghệ mới, và thực tiễn lãnh đạo.
Theo khái niệm năng suất cổ điển thì năng suất có nghĩa là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực. Vì khái niệm năng suất xuất hiện trong một bối cảnh kinh tế cụ thể, nên trong giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố được coi trọng nhất. Ở giai đoạn này, người ta thường hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động. Qua một thời kỳ phát triển, các nguồn lực khác như vốn, năng lượng và nguyên vật liệu cũng được xét đến trong khái niệm năng suất để phản ánh tầm quan trọng và đóng góp của nó trong doanh nghiệp.
Quan điểm này đã thúc đẩy việc phát triển các kỹ thuật nhằm giảm bớt lãng phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. Năng suất ở giai đoạn này có nghĩa là sản xuất “nhiều hơn” với “chi phí thấp hơn”. Đây là thời điểm Adam Smith và Frederick Taylor tập trung vào việc 7 phân chia lao động, xác định và tiêu chuẩn hoá các phương pháp làm việc tốt nhất để đạt được hiệu suất làm việc cao hơn. (Trung tâm năng suất Việt Nam VPC, 2009) Taylor và các đồng nghiệp của ông như Hernry, Frank, Lillian, Gilberth là những người đầu tiên tìm kiếm có hệ thống những phương pháp tốt nhất để tăng năng suất lao động và là người khai sinh ra lý thuyết “Quản lý theo khoa học”.
Các nguyên tắc của Taylor về phân tích công đoạn làm việc và quy trình công nghiệp được mở rộng áp dụng vào quy trình lao động trong dây chuyền lắp ráp của Henry Ford (Drucker, 2003, trang 211). Các công cụ kỹ thuật đã được phát triển nhằm nâng cao năng suất lao động phù hợp với nhu cầu của hệ thống làm việc hàng loạt vào nửa đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, năng suất lao động chỉ ra mối quan hệ giữa đầu ra đạt được với lao động đầu vào nhưng không có nghĩa là nó chỉ phụ thuộc vào yếu tố lao động mà còn ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như công nghệ, phương pháp làm việc, hệ thống lãnh đạo…. Mặc dù lý thuyết của Taylor còn một số hạn chế, nhưng “Lãnh đạo theo khoa học” là một triết lý có ảnh hưởng sâu rộng trên khắp thế giới (Drucker, 2003, trang 212).
Vì vậy, ở một số nước (trong đó có Việt Nam) người ta thường coi năng suất và năng suất lao động đồng nghĩa với nhau (Trần Thị Kim Loan, 2008). Việc chưa quan tâm đầy đủ đến các kết quả đầu ra là hạn chế cơ bản làm cho cách hiểu năng suất theo quan điểm truyền thống không phản ánh được những nội dung và mục tiêu sâu rộng hơn của năng suất theo cách tiếp cận mới hiện đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Do những thay đổi nhanh chóng về môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, công nghệ, đặc biệt là xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế, tự do hóa thương mại và sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng, chi phí, phân phối dịch vụ, thời gian thực hiện… nên năng suất đã có cách tiếp cận mới. Đây là đòi hỏi khách quan vì trong cơ chế thị trường thì bất cứ quan niệm và cách tiếp cận nào cũng phải gắn liền với nhu cầu xã hội, với sự thỏa mãn khách hàng.
Theo cách tiếp cận mới, bên cạnh việc sử dụng đầu vào một cách tối ưu, năng suất còn biểu hiện thông qua chất lượng và tính hữu ích của đầu ra. Năng suất định hướng theo kết quả đầu ra, vì thế phải xem xét dịch vụ tạo ra trong mối quan hệ chặt chẽ với nhu cầu và mong đợi của thị trường. Chính vì vậy, 8 năng suất và chất lượng không loại trừ nhau mà trái lại, năng suất - chất lượng gắn liền với nhau, hỗ trợ lẫn nhau (Khan, 2003). Các nghiên cứu trước đây Tác giả Trần Thị Kim Loan (2008) đã có một số nghiên cứu liên quan đến đề tài này như sau: Trên thế giới có một số nghiên cứu về năng suất và các yếu tố ảnh hưởng đến nó trên các góc độ và quan điểm khác nhau.
Cụ thể: Kết quả nghiên cứu của Hoffman & Mehra (1999); Chapman & Al-Khawadeh (2002); Khan (2003) cho thấy, sự cam kết của lãnh đạo cấp cao là một yếu tố không thể thiếu được trong các chương trình nâng cao năng suất lao động. Thêm vào đó, một số nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, sự cam kết của lãnh đạo cấp cao về năng suất có tác động tích cực đến năng suất lao động thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức làm việc (Politis, 2005; Steenhuis & Bruijin, 2006). Khi đã cam kết họ sẵn sàng có những hỗ trợ cần thiết trong việc đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp các nguồn lực đầy đủ để tạo điều kiện cho việc tổ chức làm việc đạt năng suất cao (Steenhuis & Bruijin, 2006). Các nghiên cứu quan tâm đến các yếu tố về nguồn nhân lực cũng tìm thấy mối quan hệ mật thiết giữa việc giáo dục và đào tạo nhân viên với năng suất lao động (Chapman & Al-Khawadeh, 2002; Chen, Liaw & Lee, 2003; Bhera, Narag & Singla, 2003).
Một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, nhóm yếu tố về tổ chức làm việc như điều kiện làm việc, bảo trì thiết bị, kiểm soát quá trình làm việc có một đóng góp đáng kể đối với năng suất lao động (Park & Miller, 1998; Golhar & Despande, 1999; Hoffman & Mehra, 1999; McKone, Schcroeder & Cua, 2001; Rahman, 2001; Sauian, 2002; Bhera, Narag & Singla, 2003; Chen & Liaw, 2006). Một số nghiên cứu cả lý thuyết lẫn thực nghiệm đều đồng ý rằng việc hướng đến khách hàng là một yếu tố chủ đạo trong kinh doanh. Nghiên cứu của Sauian 9 (2002); Chapman & Al-Khawadeh (2002); Khan (2003) cho thấy, việc hướng đến khách hàng có một tác động tích cực đến năng suất lao động. Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến Mối quan hệ trong đơn vị cũng đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu.
Baines (1997); Savery (1998); Schultz, Juran & Boudreau (1999) cho thấy, mối quan hệ tin cậy và hợp tác giữa 30 lãnh đạo và lực lượng lao động có mối quan hệ mật thiết với năng suất lao động. Ngoài ra, sự truyền thông trong doanh nghiệp cũng là một yếu tố có ảnh hưởng đến năng suất lao động (Baines, 1997; Hoffman & Mehra, 1999).