Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hiện nay, trong lĩnh vực quản lý giáo dục đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các hướng khác nhau như : quản lý đào tạo đại học, cao đẳng, đào tạo nghề, quản lý giáo dục phổ thông… Tuy nhiên, lĩnh vực nghiên cứu về quản lý đào tạo lao động Việt Nam trước khi đi làm việc ở nước ngoài của các chủ thể quản lý là giám đốc CSĐT của các doanh nghiệp có chức năng đào tạo và xuất khẩu lao động còn rất mỏng và chưa mang tính lý luận và khoa học. Trong luận án này, tác giả trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu theo ba nhóm vấn đề.
Những nghiên cứu liên quan đến phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh hội nhập quốc tế Chúng ta biết rất rõ rằng muốn đổi mới để phát triển trong bất kỳ lĩnh vực nào thì điều kiện quan trọng và đóng vai trò tiên quyết là phải thay đổi về tư duy và nhận thức, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Trong công trình nghiên cứu “ Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” [46], tác giả Trần Quốc Toản (Chủ biên) đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản của phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế với 7 quan điểm chỉ đạo và cơ chế phát triển giáo dục là “ Nhà nước đóng vai trò chủ đạo kết hợp với cơ chế thị trường, cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục đào tạo và vai trò của xã hội, đảm bảo cho GD&ĐT phát triển theo định hướng của nhà nước, có hiệu quả và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới”. Bài viết của tác giả Phan Văn Kha về “Phát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (2006) đã chỉ rõ: “Nhà nước đóng vai trò thống nhất trong quản lý và chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục, tạo môi trường pháp lý phục vụ quản 10 lý phát triển giáo dục, hạn chế các tác động tiêu cực của kinh tế thị trường”. Đào tạo và bồi dưỡng NNL là một trong những điểm nhấn trong các nghiên cứu về chính sách trong thời kỳ đổi mới của các tác giả Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha, Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức, Nguyễn Lộc…như công trình nghiên cứu về “Phát triển nhân lực theo các công nghệ ưu tiên ở nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH” (Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức, 2002) , hay trong công trình “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” KX – 05 – 10, 2006, các tác giả Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha đã có những nghiên cứu sâu về nhu cầu, nội dung, phương pháp đào tạo và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, từ đó đề xuất nhiều kiến nghị về tuyển dụng và sử dụng lao động có đào tạo theo cơ chế thị trường, chấp nhận cạnh tranh; đa dạng hóa các loại hình tuyển dụng và sử dụng lao động; xây dựng các chuẩn chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ; xuất khẩu lao động có trình độ cao để thâm nhập sâu hơn và bền vững vào thị trường lao động quốc tế [27].
Trong một “thế giới phẳng” như hiện nay, việc di chuyển để tìm chỗ làm việc phù hợp với năng lực và nâng cao chất lượng cuộc sống là điều rất phổ biến với người lao động từ các vùng, miền khác nhau. Với đề tài “Thị trường lao động Việt Nam trong cơn suy thoái kinh tế toàn cầu” đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế số 224 (6 / 2009), tác giả Trần Văn Thiện đã cho thấy suy thoái kinh tế toàn cầu tác động mạnh mẽ đến vấn đề việc làm của các quốc gia trong đó có Việt Nam [43].Tuy nhiên, việc dịch chuyển không thể mang tính tự phát, phá vỡ quy luật tự nhiên và ảnh hưởng đến trật tự xã hội được thể hiện trong bài viết “International Migration Law / Luật di cư quốc tế ” của Tổ chức di cư quốc tế (International Organization for Migration – IOM) [63]. Có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về tác động của hội nhập quốc tế đến quản lý và phát triển như cuốn sách “The Impact of Labour Immigration on households: A comparative study in seven Asian countries / Ảnh hưởng của di cư lao động đến các hộ gia đình: Nghiên cứu so 11 sánh giữa bảy nước châu Á” của GodFrey Gunatilleke [58]. Do vậy việc phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng với nhu cầu thay đổi là vô cùng quan trọng.
Dewan với cuốn “Management of Manpower training and development / Quản lý đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” đã cho độc giả sự hiểu biết toàn diện về quy trình phát triển nguồn nhân lực, các chức năng cụ thể của đào tạo, tổng quan vai trò và các mối quan hệ trong QLĐT, để từ đó các nhà quản lý cần phải có chiến lược trong quản lý và đào tạo NNL để không bị động trong một thế giới luôn vận động và thay đổi [65]. Những nghiên cứu về phát triển xuất khẩu lao động Ở Việt Nam, từ khi hoạt động hợp tác lao động và chuyên gia phát triển (Từ năm 1980 đến năm 1990), đã có một số nghiên cứu về sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực cho XKLĐ, tuy nhiên hướng nghiên cứu tập trung vào quản lý, tổ chức cho một bộ phận lao động được nhà nước cho đi làm việc có thời hạn ở các nước XHCN theo diện ưu tiên, công trình nghiên cứu trong giai đoạn này phải kể đến là: Tổ chức sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội của Việt Nam trong lĩnh vực đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, (Phạm Kiên Cường - 1989) [10]. Từ năm 1991 đến nay, hoạt động xuất khẩu lao động chuyển sang quản lý theo cơ chế thị trường, để thực hiện được nguyên lý : Xuất khẩu lao động phải đạt được mục đích kép, đó là thu về một nguồn ngoại tệ cho đất nước và nâng cao trình độ cho người lao động - nguồn nhân lực sẽ bổ sung cho thị trường lao động Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì mục tiêu trên nên một số đề tài đã nghiên cứu theo xu hướng nhằm vào việc cải thiện thị trường ngoài nước như mở rộng thị trường XKLĐ, chính sách lương & thu nhập của người lao động, chính sách tái tuyển của người lao động, cũng có nhiều đề tài hướng nghiên cứu vào các chính sách theo hệ thống quy trình trong hoạt động XKLĐ trong đó có sự tham gia của nhiều ngành quản lý, chính sách đối với người lao động làm việc ở nước ngoài trở về, nghiên cứu về chính sách hỗ trợ kinh tế - tài chính, đào tạo lại…, như đề tài của các tác giả Cao Văn Sâm, 1994, luận án phó tiến sĩ chuyên ngành kinh tế và tổ chức lao động “ Hoàn thiện 12 hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý XKLĐ ở nước ta trong giai đoạn tới” [41]; Trần Văn Hằng, 1996, luận án phó tiến sĩ chuyên ngành kinh tế, quản lý và kế hoạch hóa “Các giải pháp nhằm đổi mới quản lý nhà nước về XKLĐ ở Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2010” [18]; Nguyễn Thị Phương Linh, 2004, luận án tiến sĩ chuyên ngành tài chính, lưu thông tiền tệ và tín dụng “Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính về XKLĐ Việt Nam theo cơ chế thị trường”[35]; Phạm Thị Hoàn, 2011, luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế “ Quản lý nhà nước đối với XKLĐ của Việt Nam giai đoạn hiện nay”[24]; Phạm Đức Chính, 2011, với luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý hành chính công “ Hoàn thiện chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau XKLĐ ở Việt Nam” [09], đã làm rõ những nội dung cơ bản của chính sách, yêu cầu đặt ra và tiêu chí đánh giá đối với sử dụng nguồn nhân lực sau XKLĐ.
Hay luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế lao động “ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu XKLĐ của Việt Nam đến năm 2020”của tác giả Bùi Sỹ Tuấn (2011) đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu XKLĐ … đưa ra một số nhóm giải pháp trong đó có cơ chế chính sách của nhà nước, các địa phương, nâng cao năng lực các CSĐT nghề và các doanh nghiệp XKLĐ [50]. Một số nghiên cứu của nước ngoài về XKLĐ như tác giả Young Bum- Park “ Market opportunities for the Export of Chinese Labour”( Những cơ hội cho XKLĐ Trung Quốc) tại hội thảo do ILO và MOLISA tổ chức tại Hà Nội năm 1993 [75], báo cáo thống kê của ILO tại Geneva năm 2010 “ Labour and social trends in ASEAN 2010” ( Lao động và các xu hướng xã hội ở ASEAN năm 2010) [62]. Những kết quả chung về tình hình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về đề tài XKLĐ thể hiện: - Gắn kết lao động khi xuất khẩu với các tổ chức xã hội để bảo vệ lao động ở ngoài nước cũng như khi trở về, cả con người và kinh tế; - Đào tạo có hệ thống để phân phối lao động làm việc ở nước ngoài có tổ chức và phân phối lao động khi trở về trong cùng một đơn vị kinh tế; 13 - Các hiệp hội lao động hoạt động có sự bảo trợ của Nhà nước về người lao động trong chu trình xuất khẩu lao động; - Nhà nước có chính sách cụ thể về vốn vay ưu tiên, hỗ trợ nghề nghiệp trong tái định cư, lập nghiệp; - Nhà nước và các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp có chính sách, cơ chế hỗ trợ về đào tạo lại trong quá trình lập nghiệp. Hướng nghiên cứu về đào tạo nhân lực cho XKLĐ thì mới chỉ hình thành ở góc độ sơ khai, chỉ được nêu được một số điểm cần thiết của hoạt động đào tạo trong công tác XKLĐ, chưa tìm thấy một đề tài cụ thể nào nghiên cứu sâu sắc, có tính lý luận và mang tính khả thi về vấn đề nêu trên.