LUẬN VĂN: Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực nam đồng bằng Bắc Bộ, cách Hà Nội 96 km về phía Nam. Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Phía Đông và Đông Bắc có sông Đáy bao quanh, là ranh giới tự nhiên với hai tỉnh Hà Nam và Nam Định, phía Bắc là tỉnh Hòa Bình, phía Nam là biển Đông. Ninh Bình có vị trí rất quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hóa giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng núi Tây Bắc và miền Trung. Trên địa bàn tỉnh có các quốc lộ và tuyến giao thông quan trọng chạy qua như 1A; 10; 12A; 12B, đường sắt Bắc - Nam. Ninh Bình còn có hệ thống sông ngòi khá dày đặc như sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sông Vạc, sông Vân. Hệ thống giao thông thủy, bộ tạo thành mạng lưới giao thông rất thuận tiện cho giao lưu, phát triển kinh tế của tỉnh. Tài nguyên du lịch của Ninh Bình tương đối phong phú, đa dạng bao gồm hệ thống núi đá vôi, rừng, hồ, các di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng,. cùng với văn hóa của cư dân nông nghiệp địa phương. Đây là một lợi thế quan trọng, tạo tiền đề phát triển nhiều loại hình du lịch phong phú, đa dạng. Tài nguyên du lịch Ninh Bình được phân bố tương đối tập trung ở một số khu vực chính như Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan, Kim Sơn, với khu du lịch nổi tiếng: Tam Cốc - Bích Động, Tràng An, rừng quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, suối khoáng nóng Kênh Gà - Vân Trình. Nguồn tài nguyên văn hóa độc đáo của Ninh Bình có những địa danh điển hình như cố đô Hoa Lư, nhà thờ đá Phát Diệm, phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn, chùa Bái Đính. Đây chính là điều kiện rất tốt cho việc hình thành và phát triển những khu du lịch trọng điểm, có sức hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước. Phát huy lợi thế đó, trong những năm qua, Ninh Bình đã tập trung đầu tư phát triển du lịch đồng bộ trên cả ba nội dung: xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và xây dựng hệ thống cơ sở và đội ngũ nhân viên ngành du lịch. Ngày 13-7-2009, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU về phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Với sự quan tâm chỉ đạo sát sao và đầu tư thích đáng, các hoạt động dịch vụ, du lịch của tỉnh liên tục phát triển, doanh thu du lịch năm 2010 ước đạt 559 tỷ đồng, tăng 8,8 lần so với năm 2005. Tuy nhiên, kết quả hoạt động du lịch đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh. Chất lượng các dịch vụ du lịch chưa cao; doanh số kinh doanh du lịch còn khiêm tốn, khách lưu trú, đặc biệt là khách quốc tế ở lại Ninh Bình với số lượng ít, số ngày lưu trú ngắn. Ninh Bình còn thiếu các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí cao cấp đạt chuẩn quốc tế. Hơn nữa, tỉnh chưa tạo được sản phẩm du lịch độc đáo, đặc trưng, có sức thu hút khách. Về quản lý nhà nước, còn lúng túng và thực hiện kém hiệu quả ở tất cả các khâu, đặc biệt là công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, quản lý các cơ sở du lịch đảm bảo chất lượng và uy tín đối với khách hàng. Quán triệt vai trò của hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh, Nghị quyết số 15-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã xác định rõ: Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, phát triển du lịch là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của mỗi người dân… Phát triển du lịch bền vững, từng bước đưa du lịch sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nhiều ngành, nhiều lĩnh vực cùng phát triển…[41]. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX cũng đã thông qua phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của nhiệm kỳ 2010-2015, trong đó có các mục tiêu, giải pháp về phát triển du lịch: "Đưa kinh tế du lịch vào thời kỳ tăng tốc, để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Mục tiêu đặt ra là phấn đấu khách du lịch đến năm cuối nhiệm kỳ (2015) đạt 6 triệu lượt khách, khách lưu trú đạt 1 triệu lượt khách" [6]. Để thực hiện các mục tiêu và quan điểm phát triển du lịch nêu trên, ngoài sự nỗ lực của các cơ sở du lịch của tỉnh, về phía quản lý nhà nước cần có những biện pháp đổi mới và thực hiện triệt để trong thực tế. Việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch sẽ giúp ngành du lịch Ninh Bình giữ được các chuẩn mực và chất lượng dịch vụ, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, về lâu dài sẽ phát triển ổn định và hiệu quả cao. Trong điều kiện hiện nay, để đổi mới, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, cần có những công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới và hoàn thiện công tác này. Với những lý do nêu trên, đề tài: "Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình" được lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp khóa học thạc sĩ của học viên. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Liên quan đến đề tài nghiên cứu, đã có một số công trình đã công bố. Sau đây là những công trình điển hình. - Nguyễn Minh Đức (2007), "Quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại, du lịch tỉnh Sơn La trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. - Huỳnh Vĩnh Lạc (2005), "Khai thác tiềm năng du lịch đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang", Luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. - Trịnh Đăng Thanh (2004) "Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. - Trần Xuân Ảnh (2007), "Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thị trường du lịch", Tạp chí Quản lý nhà nước, số 132. - Nguyễn Văn Mạnh (2007), "Để du lịch Việt Nam phát triển nhanh và bền vững sau khi gia nhập WTO", Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 115. - Vũ Khoan (2005), "Đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2010", Tạp chí Du lịch, số 11. - Trịnh Đăng Thanh (2004), "Một số suy nghĩ về công tác quản lý nhà nước đối với ngành du lịch", Tạp chí Quản lý nhà nước, số 98. - Trần Nguyễn Tuyên (2005), "Du lịch Việt Nam phát triển theo hướng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn", Tạp chí Quản lý nhà nước, số 114. + Phạm Trung Lương (4/1998), Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp ngành, Hà Nội. + Nguyễn Văn Mạnh (2007), Để du lịch Việt Nam phát triển nhanh và bền vững sau khi ra nhập WTO, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội + Tạ Minh Phương (2006) "Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thực trạng và giải pháp" Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Các công trình nêu trên là nguồn tư liệu quý để đề tài tham khảo và kế thừa. Tuy nhiên, Đề tài: "Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình" là một đề tài không trùng lặp, mang tính đặc thù riêng, chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3. Mục đích Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng hoạt động du lịch của Ninh Bình, đề xuất được phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nhằm thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển nhanh và bền vững, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới hiện nay. Nhiệm vụ Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn xác định có những nhiệm vụ sau: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò, chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trong điều kiện đổi mới hiện nay ở Việt Nam nói chung và ở cấp tỉnh nói riêng. - Phân tích thực trạng phát triển hoạt động du lịch của tỉnh Ninh Bình từ năm 2001 đến nay; từ đó đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân. - Đề xuất các giải pháp đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở Ninh Bình, nhằm khai thác có hiệu quả lợi thế tiềm năng du lịch của tỉnh giai đoạn 2010-2020. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 4. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quá trình và hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện bởi chính quyền địa phương tỉnh - huyện - phường, xã. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2001 đến nay; phương hướng, giải pháp quản lý và phát triển du lịch Ninh Bình đến 2020. Hoạt động du lịch ở đây được hiểu là các hoạt động kinh tế tương tác giữa các chủ thể tham gia vào các dịch vụ thuộc ngành du lịch diễn ra trên địa bàn khảo sát ở tỉnh Ninh Bình. Các chủ thể đó bao gồm: các cơ sở kinh doanh dịch vụ nghỉ dưỡng, tham quan, khai thác tour, nhà hàng, bán đồ lưu niệm…; khách du lịch; các tổ chức hiệp hội về du lịch. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.
Tổng quan nghiên cứu
Tỉnh Ninh Bình, nằm ở cực nam đồng bằng Bắc Bộ, cách Hà Nội 96 km về phía Nam, sở hữu vị trí địa lý chiến lược với hệ thống giao thông đa dạng gồm quốc lộ 1A, 10, 12A, 12B và đường sắt Bắc - Nam. Tài nguyên du lịch của tỉnh rất phong phú, bao gồm hệ thống núi đá vôi, rừng, hồ, các di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng như Tam Cốc - Bích Động, Tràng An, rừng quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, suối khoáng nóng Kênh Gà - Vân Trình, cùng các di tích văn hóa đặc sắc như cố đô Hoa Lư, nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Bái Đính.
Mặc dù doanh thu du lịch năm 2010 đạt khoảng 559 tỷ đồng, tăng 8,8 lần so với năm 2005, hoạt động du lịch của tỉnh vẫn chưa phát huy hết tiềm năng do chất lượng dịch vụ còn thấp, thiếu các khu nghỉ dưỡng, khách sạn đạt chuẩn quốc tế và sản phẩm du lịch đặc trưng chưa được phát triển. Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong công tác xúc tiến, quảng bá và quản lý chất lượng dịch vụ.
Mục tiêu nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2001 đến nay, đồng thời đề xuất các giải pháp đổi mới, hoàn thiện quản lý nhà nước để thúc đẩy phát triển du lịch nhanh và bền vững đến năm 2020. Nghiên cứu có phạm vi tập trung vào các hoạt động quản lý do chính quyền địa phương thực hiện, bao gồm các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, khách du lịch và các tổ chức liên quan.
Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, đồng thời tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển du lịch tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn dựa trên các lý thuyết quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là vai trò của Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, tổ chức, điều tiết và giám sát hoạt động du lịch. Hai mô hình chính được áp dụng gồm:
- Mô hình quản lý nhà nước đa cấp: Phân cấp quản lý từ trung ương đến địa phương, trong đó chính quyền cấp tỉnh giữ vai trò chủ đạo trong tổ chức và điều phối các hoạt động du lịch trên địa bàn.
- Lý thuyết phát triển bền vững trong du lịch: Nhấn mạnh sự cân bằng giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và bảo tồn văn hóa, nhằm đảm bảo sự phát triển lâu dài của ngành du lịch.
Các khái niệm chính bao gồm: quản lý nhà nước, hoạt động du lịch, phát triển du lịch bền vững, chính sách du lịch, và nguồn nhân lực du lịch.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính:
- Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình, báo cáo kinh tế xã hội tỉnh, các văn bản pháp luật liên quan như Luật Du lịch, Luật Di sản văn hóa, Luật Bảo vệ môi trường.
- Phương pháp phân tích: Phân tích thống kê số liệu khách du lịch, doanh thu, cơ sở vật chất kỹ thuật; phân tích nội dung các chính sách, quy hoạch phát triển du lịch; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước qua khảo sát và phỏng vấn chuyên gia.
- Timeline nghiên cứu: Tập trung phân tích giai đoạn 2001-2010, đồng thời đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2010-2020.
Cỡ mẫu khảo sát gồm gần 11.000 lao động ngành du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch và các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, huyện, xã.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Tăng trưởng khách du lịch và doanh thu: Năm 2010, Ninh Bình đón gần 3,6 triệu lượt khách, gấp 9 lần năm 2000, trong đó khách quốc tế chiếm trên 30%. Doanh thu du lịch tăng từ 30,6 tỷ đồng năm 2001 lên 559 tỷ đồng năm 2010, thể hiện sự phát triển nhanh nhưng chưa tương xứng với tiềm năng.
-
Cơ sở vật chất kỹ thuật: Số lượng khách sạn tăng từ 38 cơ sở năm 2001 lên 530 cơ sở năm 2010, với tổng số giường đạt trên 10.790. Công suất sử dụng phòng đạt khoảng 67% năm 2010, tăng so với 53% năm 2001.
-
Nguồn nhân lực du lịch: Lao động ngành du lịch tăng từ 5.850 người năm 2001 lên gần 11.000 người năm 2010, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 68%, nhưng chất lượng nguồn nhân lực khu vực tư nhân còn hạn chế.
-
Quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế: Công tác quản lý chưa chuyên nghiệp, thiếu đồng bộ giữa hạ tầng cứng và mềm, chưa có chương trình nâng cao văn hóa ứng xử trong ngành, dẫn đến chất lượng dịch vụ chưa đạt chuẩn quốc gia và quốc tế.
Thảo luận kết quả
Sự tăng trưởng về lượng khách và doanh thu cho thấy tiềm năng du lịch Ninh Bình được khai thác tích cực, tuy nhiên, chất lượng dịch vụ và quản lý chưa theo kịp đà phát triển. Việc đầu tư hạ tầng chưa đồng bộ, đặc biệt là các dịch vụ phụ trợ như bãi đỗ xe, xử lý rác thải còn thiếu, ảnh hưởng đến trải nghiệm du khách.
Nguồn nhân lực tuy tăng về số lượng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng và chuyên môn, nhất là trong khu vực tư nhân, làm giảm sức cạnh tranh của ngành. So với các tỉnh như Lâm Đồng và Cà Mau, Ninh Bình còn thiếu sự đa dạng hóa sản phẩm du lịch và chưa phát huy hiệu quả công tác xúc tiến quảng bá.
Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ tăng trưởng khách du lịch, bảng thống kê cơ sở lưu trú và biểu đồ phân bố lao động theo trình độ đào tạo để minh họa rõ nét hơn các phát hiện.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Hoàn thiện quy hoạch và chính sách phát triển du lịch: Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch dài hạn, đồng bộ với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đảm bảo khai thác hiệu quả tiềm năng tài nguyên du lịch. Thời gian thực hiện: 2018-2020. Chủ thể: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các sở ngành liên quan.
-
Đầu tư nâng cấp hạ tầng du lịch: Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là các khu nghỉ dưỡng, khách sạn đạt chuẩn quốc tế, hệ thống giao thông, bãi đỗ xe và xử lý môi trường. Thời gian: 2018-2022. Chủ thể: UBND tỉnh, các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
-
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng phục vụ cho đội ngũ lao động du lịch, đặc biệt khu vực tư nhân. Thời gian: liên tục từ 2018. Chủ thể: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các trường đào tạo nghề.
-
Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch: Xây dựng chiến lược quảng bá đa kênh, tập trung vào các thị trường khách quốc tế tiềm năng như Tây Âu, châu Úc, Đông Bắc Á. Thời gian: 2018-2020. Chủ thể: Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh, các doanh nghiệp du lịch.
-
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước: Củng cố bộ máy quản lý, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động du lịch, xử lý nghiêm các vi phạm, đồng thời xây dựng các quy định bắt buộc về chất lượng dịch vụ. Thời gian: 2018-2020. Chủ thể: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan chức năng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: Giúp hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch.
-
Doanh nghiệp kinh doanh du lịch: Cung cấp thông tin về thực trạng ngành, xu hướng phát triển và các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ, từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp.
-
Các nhà nghiên cứu và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo quý giá trong nghiên cứu phát triển du lịch, quản lý nhà nước và kinh tế địa phương.
-
Nhà đầu tư trong và ngoài nước: Hiểu rõ tiềm năng, cơ hội và thách thức của ngành du lịch Ninh Bình để đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả.
Câu hỏi thường gặp
-
Quản lý nhà nước có vai trò gì trong phát triển du lịch Ninh Bình?
Quản lý nhà nước định hướng, tổ chức, điều tiết và giám sát hoạt động du lịch, tạo môi trường pháp lý và chính sách thuận lợi để phát triển bền vững ngành du lịch. -
Tình hình phát triển du lịch Ninh Bình giai đoạn 2001-2010 ra sao?
Khách du lịch tăng gấp 9 lần, doanh thu tăng gần 18 lần, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững. -
Những hạn chế chính trong quản lý du lịch tại Ninh Bình là gì?
Thiếu đồng bộ trong đầu tư hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, quản lý chưa chuyên nghiệp và công tác xúc tiến quảng bá còn yếu. -
Giải pháp nào được đề xuất để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước?
Hoàn thiện quy hoạch, đầu tư hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường xúc tiến quảng bá và nâng cao năng lực quản lý, kiểm tra, giám sát. -
Ai nên sử dụng kết quả nghiên cứu này?
Cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp du lịch, nhà nghiên cứu và nhà đầu tư để phát triển ngành du lịch Ninh Bình hiệu quả và bền vững.
Kết luận
- Ninh Bình có tiềm năng du lịch đa dạng với nhiều tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đặc sắc, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành du lịch.
- Giai đoạn 2001-2010, ngành du lịch tỉnh phát triển nhanh về lượng khách và doanh thu nhưng chất lượng dịch vụ và quản lý còn nhiều hạn chế.
- Quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, tổ chức và điều tiết hoạt động du lịch, cần được nâng cao hiệu quả để phát triển bền vững.
- Đề xuất các giải pháp đồng bộ về quy hoạch, hạ tầng, nguồn nhân lực và xúc tiến quảng bá nhằm khai thác tối đa tiềm năng du lịch của tỉnh.
- Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nhà đầu tư trong việc phát triển du lịch Ninh Bình trong giai đoạn tiếp theo.
Các cơ quan chức năng cần triển khai ngay các giải pháp đề xuất, đồng thời tổ chức các hội thảo chuyên đề để cập nhật, hoàn thiện chính sách phát triển du lịch tỉnh. Đề nghị các nhà đầu tư và doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để phát huy hiệu quả nguồn lực và tiềm năng du lịch.