Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động du lịch bằng xích lô từ lâu đã trở thành nét đẹp văn hóa đặc trưng của Cố đô Huế, mang đến cho du khách trải nghiệm chậm rãi khám phá cảnh quan, di tích và nhịp sống đời thường. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của du lịch và quá trình đô thị hóa, hoạt động hành nghề xích lô du lịch trên địa bàn thành phố phát sinh nhiều vấn đề phức tạp. Tình trạng người hành nghề hoạt động tự do không qua quản lý, chèo kéo, tranh giành, "chặt chém" giá cước, tự ý gắn mô tơ điện di chuyển với tốc độ cao hay vi phạm trật tự an toàn giao thông đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh du lịch Cố đô.

Đặc biệt, sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1264/NQ-UBTVQH14 ngày 27/4/2021 về việc điều chỉnh địa giới hành chính các đơn vị hành chính cấp huyện và sắp xếp, thành lập các phường thuộc thành phố Huế, không gian đô thị của thành phố mở rộng lên 265,99 km² với quy mô dân số 652.572 người (gồm 29 phường và 07 xã). Sự gia tăng về quy mô không gian và số lượng phương tiện, người hành nghề đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải được điều chỉnh đồng bộ, toàn diện và có hệ thống.

Đề án tốt nghiệp ngành Quản lý công (định hướng ứng dụng) của tác giả Đặng Hữu Hải, dưới sự hướng dẫn của TS. Vũ Hoàng Mạnh Trung tại Học viện Hành chính Quốc gia (thực hiện tháng 5/2024), tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý nhà nước đối với người hành nghề và phương tiện xích lô du lịch tại thành phố Huế giai đoạn 2021–2023; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý giai đoạn tiếp theo đến năm 2030.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với xích lô du lịch và người hành nghề xích lô du lịch.
    2. Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách, quy định quản lý nhà nước đối với xích lô du lịch và người hành nghề trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
    3. Đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này trong bối cảnh mới.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước đối với hoạt động hành nghề xích lô du lịch.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
    • Thời gian: Dữ liệu đánh giá thực trạng giai đoạn 2021–2023, định hướng giải pháp đến năm 2030.
    • Nội dung: Các quy định, chính sách, mô hình tổ chức và cơ chế quản lý con người, phương tiện và giá cước dịch vụ xích lô du lịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề án vận dụng các khái niệm và cơ sở pháp lý nền tảng của ngành quản lý công và pháp luật chuyên ngành:

  • Khái niệm nền tảng: Quản lý, quản lý nhà nước, du lịch (theo Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO và Luật Du lịch năm 2017), quản lý nhà nước về du lịch, nghề, hành nghề xích lô du lịch và quản lý nhà nước về xích lô du lịch. Quản lý nhà nước về xích lô du lịch được xác định là sự tác động có tổ chức, bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với các chủ thể và phương tiện tham gia dịch vụ nhằm duy trì trật tự an toàn giao thông, bảo vệ quyền lợi du khách và bảo tồn giá trị văn hóa.
  • Cơ sở pháp lý: Hiến pháp năm 2013, Luật Giao thông đường bộ (quy định về phương tiện giao thông thô sơ), Luật Du lịch năm 2017, Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Nghị quyết số 92/NQ-CP năm 2014 của Chính phủ, Quyết định số 01/2022/QĐ-UBND ngày 10/01/2022 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế quy định quản lý và sử dụng xe thô sơ, xe mô tô vận chuyển hành khách, hàng hóa; cùng Thông tư số 54/2019/TT-BGTVT (QCVN 41:2019/BGTVT).
  • Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý xã hội bằng pháp luật.
  • Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
    • Thu thập số liệu thứ cấp: Tổng hợp từ văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố Huế, các báo cáo tổng kết hàng năm của UBND thành phố Huế, Liên đoàn Lao động thành phố, số liệu quản lý của các phòng ban chuyên môn và UBND 36 phường, xã.
    • Phương pháp phân tích: Thống kê mô tả, thống kê so sánh, phân tích số bình quân và phương pháp quan sát thực địa để tổng hợp tình hình hoạt động của các nghiệp đoàn, tổ tự quản và các điểm nóng du lịch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về hành nghề xích lô du lịch

Chương 1 hệ thống hóa khung lý luận về quản lý nhà nước đối với loại hình vận tải thô sơ phục vụ du lịch. Tác giả chỉ ra ba yếu tố chủ yếu tác động đến hiệu quả quản lý: nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân; năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ; và cơ chế phối hợp liên ngành giữa chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn và các tổ chức công đoàn/nghiệp đoàn.

Về nội dung quản lý, chương này làm rõ ba trụ cột chính:

  1. Quản lý phương tiện: Xác định tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn của xe xích lô (hệ thống hãm, càng chuyển hướng, vành lốp, kích thước thùng xe, chuông cơ khí, tấm phản quang) và đăng ký cấp biển kiểm soát; ứng dụng mã QR Code phục vụ tra cứu thông tin phương tiện.
  2. Quản lý con người hành nghề: Quy định biển hiệu đeo ngực (kích thước 85mm x 50mm, nền xanh da trời, chữ in hoa màu trắng, có dán ảnh), trang phục chuẩn hóa (áo có cổ, túi nắp), chế độ đăng ký danh sách tại UBND cấp xã, tham gia các nghiệp đoàn thuộc Liên đoàn Lao động và ký cam kết văn hóa ứng xử.
  3. Quản lý giá cả dịch vụ: Thẩm định, phê duyệt và niêm yết công khai khung giá cước theo giờ, theo kilômét hoặc theo tuyến vận chuyển; thanh toán qua tiền mặt hoặc ứng dụng số.

Chương 1 cũng tổng hợp kinh nghiệm quản lý xích lô du lịch tại ba địa phương tiêu biểu nhằm rút ra bài học cho thành phố Huế:

Địa phương Cơ quan quản lý chính Mô hình tổ chức & Quản lý phương tiện Quy định nhận diện & Dịch vụ
Hà Nội Công an thành phố, UBND quận/huyện Bắt buộc gắn biển số do Công an cấp; người hành nghề phải là thành viên doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xích lô Chỉ chở khách du lịch và phục vụ cưới hỏi truyền thống; quy định nghiêm ngặt khung giờ và tuyến đường hoạt động
Đà Nẵng Trung tâm Xúc tiến Du lịch quản lý trực tiếp Quy định tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất (khung sườn inox, nệm ngồi và mái che màu đỏ) Bồi dưỡng ngoại ngữ, ứng xử; đồng phục áo vàng nhiệt đới có logo Danang Fantasticity, đội mũ cói
Hội An Phòng Quản lý đô thị phối hợp Liên đoàn Lao động Quản lý thông qua Nghiệp đoàn Xích lô du lịch; tự thảo luận xây dựng quy chế nội bộ Cấm ô tô/xe điện ở một số tuyến phố cổ, ưu tiên không gian cho xích lô du lịch, xe đạp và người đi bộ

Từ kinh nghiệm thực tế, tác giả rút ra 5 bài học cho thành phố Huế: phân cấp quản lý trực tiếp cho UBND phường/xã; chuẩn hóa tiêu chuẩn kỹ thuật phương tiện, biển số, thẻ tên và đồng phục; tổ chức tuyến phân luồng ưu tiên xích lô tại khu vực di sản; quy định điều kiện sức khỏe người hành nghề; và hỗ trợ nghiệp đoàn xây dựng quy chế nội bộ gắn với khung giá cước minh bạch.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với người hành nghề xích lô du lịch trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương này phân tích bối cảnh tự nhiên, lịch sử, văn hóa và kinh tế - xã hội của thành phố Huế ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xích lô. Sau khi sáp nhập địa giới năm 2021, thành phố có 36 đơn vị hành chính cấp xã (29 phường, 7 xã), kinh tế du lịch phục hồi mạnh sau đại dịch Covid-19, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 1,62% (năm 2021) xuống 0,65% (năm 2023). Bản sắc văn hóa Cố đô với hơn 150 ngôi chùa, hệ thống lăng tẩm, Đại Nội và nếp sống người Huế tạo không gian thuận lợi cho dịch vụ xích lô phát triển.

Về công tác quản lý nhà nước, đề án chia thành hai giai đoạn:

  • Trước năm 2021: Hoạt động quản lý chỉ dừng ở mức độ tuyên truyền, giáo dục và xử lý vi phạm giao thông theo các chuyên đề định kỳ của Công an thành phố. Việc quản lý bị phân tán, giao khoán cho cấp xã nên xuất hiện nhiều phương tiện tự do, xe không biển số, xe gắn mô tơ điện tự chế và tình trạng chèo kéo khách tại các điểm di tích.
  • Giai đoạn 2021–2023: UBND thành phố Huế ban hành các văn bản chỉ đạo đồng bộ: Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 03/8/2022 về đẩy mạnh quản lý hoạt động xe xích lô; Công văn số 2696/UBND-GT ngày 14/4/2023 hướng dẫn quản lý vận chuyển; Công văn số 5996/UBND-GT ngày 28/7/2023 về giám sát hoạt động.

Số liệu thực tế ghi nhận:

  • Tổng số phương tiện xích lô hoạt động trên toàn thành phố là khoảng 744 chiếc (trong đó có 619 phương tiện được thống kê chính thức phục vụ du lịch phân bố tại 24/36 phường, xã).
  • Lực lượng tham gia Nghiệp đoàn xích lô - xe thồ thuộc Liên đoàn Lao động thành phố Huế có hơn 200 chiếc (chính thức ghi nhận 218 đoàn viên).
  • Số lượng xích lô hoạt động tự do ngoài nghiệp đoàn chiếm tỷ lệ lớn với hơn 500 chiếc.

Đề án ghi nhận những kết quả đạt được như việc duy trì mô hình đội xe Xích lô Huế "5 không" (Không đeo bám chèo kéo; không nói tục, chửi thề, đánh nhau; không rượu bia, chất kích thích; không môi giới tệ nạn; không đòi tiền bồi dưỡng) và "5 luôn" (Luôn chấp hành quy trình an toàn; luôn chấp hành lộ trình - giá cả; luôn trau dồi kiến thức, ngoại ngữ; luôn thân thiện, lịch sự; luôn nói lời cảm ơn). Nghiệp đoàn xích lô Huế đã bước đầu chuẩn hóa nhận diện: đồng phục áo màu xanh lam (in logo Công đoàn phía trước, tên Nghiệp đoàn phía sau), bảng tên cá nhân, biển số xe chuyên dùng dạng 75XL-xxx-xx và niêm yết bảng giá theo chặng.

Tuy nhiên, công tác quản lý còn nhiều hạn chế:

  • Tình trạng tranh giành, đeo bám du khách diễn ra phức tạp tại các điểm tập trung đông như bến xe Nguyễn Hoàng và khu vực quanh Đại Nội (thuộc phường Đông Ba).
  • Hiện tượng xích lô tự do tự ý lắp bình ắc quy và mô tơ điện để chạy tour nhanh (lên tới 8 chuyến/ngày quanh Đại Nội), gây nguy cơ mất an toàn giao thông nghiêm trọng.
  • Cơ quan chức năng chưa thống kê, quản lý toàn diện về độ tuổi, trình độ văn hóa, lý lịch tư pháp, tình trạng tham gia Bảo hiểm y tế (BHYT) và Bảo hiểm xã hội (BHXH) của người hành nghề.
  • Nguyên nhân chủ yếu do đa số người đạp xích lô đã lớn tuổi, quá tuổi lao động, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhưng là lao động chính; nhận thức pháp luật hạn chế; công tác phối hợp xử lý vi phạm của chính quyền cấp xã chưa kiên quyết, thiếu chế tài quản lý khung giờ hoạt động 24/24.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động hành nghề xích lô du lịch trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Dựa trên các định hướng của Nghị quyết số 08-NQ/TW và quy định của Luật Du lịch 2017, tác giả xác định mục tiêu quản lý là chuyển đổi toàn diện xích lô từ phương tiện chuyên chở thô sơ thuần túy thành sản phẩm du lịch di sản đặc trưng, văn minh và an toàn.

Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:

  1. Xây dựng môi trường du lịch "Văn minh - Thân thiện - An toàn - Giàu bản sắc": Chỉ đạo các cấp chính quyền triển khai các phong trào gắn với tiêu chí trật tự đô thị; biên soạn tài liệu tuyên truyền pháp luật và văn hóa ứng xử ngắn gọn, dễ hiểu dành riêng cho người hành nghề xích lô; gắn trách nhiệm quản lý trật tự với phong trào văn hóa tại tổ dân phố.
  2. Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch xích lô Huế: Rà soát, kiểm định kỹ thuật và kiên quyết xử lý các phương tiện tự ý độ chế mô tơ điện trái phép; tích hợp quản lý phương tiện và người hành nghề qua nền tảng đô thị thông minh Hue-S và mã QR Code; bắt buộc niêm yết công khai biểu giá dịch vụ và chuẩn hóa trang phục, biển hiệu đồng bộ cho toàn bộ người hành nghề trên địa bàn.
  3. Phát triển du lịch xích lô thành chương trình khám phá di sản: Quy hoạch mạng lưới luồng tuyến tham quan bằng xích lô kết nối các di tích lịch sử, chùa chiền, nhà vườn, phố cổ; nghiên cứu phương án cấm một số loại phương tiện cơ giới (ô tô) tại các trục đường nội thành trong các khung giờ nhất định để tạo không gian an toàn, ưu tiên cho xích lô du lịch và người đi bộ.
  4. Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nhân lực: Phối hợp giữa Sở Du lịch, Hiệp hội Du lịch, LĐLĐ và UBND các phường/xã tổ chức các lớp tập huấn định kỳ về văn hóa giao tiếp, ngoại ngữ giao tiếp cơ bản (tiếng Anh) và kiến thức lịch sử - văn hóa Cố đô để mỗi người đạp xích lô đóng vai trò như một hướng dẫn viên du lịch.
  5. Phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu xích lô Huế: Đưa dịch vụ xích lô vào các ấn phẩm, video quảng bá chính thức của du lịch Thừa Thiên Huế; xây dựng kênh tiếp nhận phản ánh nhanh của du khách qua ứng dụng di động; phân định rõ lộ trình và nguồn lực thực hiện theo từng giai đoạn cụ thể.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu quản lý: Đề án cung cấp bức tranh số liệu thực tế về số lượng phương tiện (744 xe, 619 xe phục vụ du lịch tại 24/36 phường, xã) và cơ cấu tổ chức (218 đoàn viên thuộc Nghiệp đoàn, hơn 500 người hoạt động tự do) trên địa bàn thành phố Huế sau khi mở rộng địa giới hành chính.
  • Đánh giá thực thi chính sách: Phân tích chi tiết việc triển khai các văn bản quản lý nhà nước tại địa phương như Quyết định số 01/2022/QĐ-UBND của Tỉnh, Chỉ thị số 02/CT-UBND, Công văn 2696/UBND-GT và Công văn 5996/UBND-GT của thành phố Huế; chỉ rõ khoảng trống trong công tác quản lý phương tiện tự chế và kiểm soát giá cước.
  • Đề xuất giải pháp có tính ứng dụng: Đề xuất mô hình quản lý tích hợp công nghệ (Hue-S, QR Code), chuẩn hóa nhận diện và lộ trình phân luồng giao thông ưu tiên xích lô tại khu vực nội thành di sản, góp phần trực tiếp hỗ trợ cơ quan quản lý đô thị và du lịch thành phố Huế điều hành thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề án chủ yếu khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp từ báo cáo hành chính của các cơ quan nhà nước và khảo sát mô tả; chưa tiến hành khảo sát định lượng diện rộng về mức thu nhập, điều kiện sống thực tế của toàn bộ người hành nghề tự do cũng như mức độ hài lòng chi tiết của du khách quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế - xã hội của việc chuyển đổi sinh kế cho người hành nghề xích lô cao tuổi; nghiên cứu xây dựng mô hình hợp tác xã hoặc doanh nghiệp dịch vụ xích lô cổ phần hóa ứng dụng công nghệ định vị và đặt chuyến tự động.

Giá trị tham khảo

Đề án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên: Chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Quản lý nhà nước và Quản trị dịch vụ du lịch & lữ hành khi nghiên cứu về quản lý phương tiện giao thông thô sơ, quản lý trật tự đô thị và phát triển kinh tế phi chính thức.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: UBND thành phố Huế, Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, Liên đoàn Lao động và UBND các phường, xã trên địa bàn trong việc xây dựng quy chế quản lý xích lô, quy hoạch luồng tuyến di sản và triển khai dịch vụ đô thị thông minh.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề án phân loại xe xích lô du lịch thuộc nhóm phương tiện nào theo quy định pháp luật?
Xe xích lô được xác định là phương tiện giao thông thô sơ đường bộ theo Luật Giao thông đường bộ và quy định tại khoản 3.33 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2019/BGTVT (kèm theo Thông tư 54/2019/TT-BGTVT).

2. Quy mô phương tiện và người hành nghề xích lô tại thành phố Huế được đề án ghi nhận như thế nào?
Toàn thành phố có 744 xe xích lô hoạt động, trong đó có 619 xe hoạt động du lịch tại 24/36 xã, phường. Nghiệp đoàn xích lô du lịch thuộc Liên đoàn Lao động thành phố quản lý 218 đoàn viên (hơn 200 xe), trong khi lực lượng tự do còn hơn 500 xe.

3. Tiêu chuẩn nhận diện của người hành nghề thuộc Nghiệp đoàn xích lô Huế gồm những gì?
Đoàn viên mặc áo đồng phục màu xanh lam (có logo Công đoàn phía trước, tên Nghiệp đoàn phía sau lưng), đeo bảng tên kích thước 85mm x 50mm do Liên đoàn Lao động thành phố cấp và phương tiện gắn biển số kiểm soát dạng 75XL-xxx-xx.

4. Hai văn bản quản lý trọng tâm của UBND thành phố Huế ban hành trong giai đoạn 2022–2023 là gì?
Đó là Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 03/8/2022 về việc đẩy mạnh các giải pháp tăng cường công tác quản lý hoạt động xe xích lô và Công văn số 2696/UBND-GT ngày 14/4/2023 về hướng dẫn quản lý hoạt động vận chuyển hành khách bằng xe xích lô.

5. Điểm bất cập kỹ thuật lớn nhất được tác giả chỉ ra đối với xích lô tự do tại khu vực Đại Nội Huế là gì?
Nhiều người hành nghề tự do tự ý lắp đặt thêm bình ắc quy và mô tơ điện để tăng tốc độ nhằm chạy tour quanh Đại Nội lên tới 8 chuyến/ngày, gây mất an toàn giao thông nghiêm trọng và phá vỡ đặc trưng trải nghiệm êm đềm của xích lô truyền thống.

Kết luận

Đề án tốt nghiệp của tác giả Đặng Hữu Hải đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở khoa học và đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xích lô du lịch tại thành phố Huế sau khi mở rộng địa giới hành chính. Nghiên cứu đã làm rõ những mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nét đẹp văn hóa du lịch với tình trạng hoạt động tự phát, độ chế phương tiện và cạnh tranh không lành lành mạnh. Các nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ thể chế, chuẩn hóa nhận diện, ứng dụng công nghệ số Hue-S đến đào tạo kỹ năng, cung cấp cơ sở thực tiễn giá trị cho việc nâng cao hiệu lực quản lý đô thị và du lịch tại địa phương.