LUẬN VĂN: Quản lý nhà nước về tôn giáo - thực trạng và giải pháp bảo đảm hiệu lực, hiệu quả Lời nói đầu Tôn giáo là một thực thể xã hội xuất hiện sớm trong lịch sử loài người, có nguồn gốc hình thành, phát triển và ảnh hưởng đến đời sống chính trị, văn hoá, xã hội khác nhau trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Tự do tôn giáo là một trong những quyền tự nhiên của con người và phải được pháp luật bảo vệ, đồng thời đó cũng là một mặt của giá trị dân chủ trên thế giới hiện nay. Tín ngưỡng tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của nhân dân, nhưng tôn giáo với tư cách là một thực thể xã hội, là một lĩnh vực của đời sống xã hội thì tôn giáo cũng phải được nhà nước có chủ quyền quản lý như quản lý các lĩnh vực khác. Vấn đề quản lý nhà nước về tôn giáo là một yêu cầu khách quan, cần thiết, bởi chỉ có được quản lý thì hoạt động tôn giáo mới thực sự diễn ra bình thường, quan hệ giữa các tôn giáo, giữa các tín đồ mới thực sự bình đẳng, quyền tự do theo hoặc không theo tôn giáo nào của công dân mới được đảm bảo và tôn giáo không bị lợi dụng để nhằm mục đích chính trị hay ý đồ xấu.
Việt Nam là đất nước có nhiều tôn giáo, đa dạng về tổ chức, khác nhau về số lượng, có nguồn gốc phát sinh, du nhập, phát triển và ảnh hưởng khác nhau, trong đời sống chính trị, văn hoá, xã hội. Kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời (tháng 8/1945) đến nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo luôn được thực hiện nhất quán đó là: đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân; mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, các hành vi lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị gây mất an ninh, trật tự và chủ quyền quốc gia đều bị nghiêm trị. Nó được thể hiện sinh động trong các văn kiện của Đảng, các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, trong các Sắc lệnh, Pháp lệnh, các bài viết, bài nói của lãnh tụ. Trong tiểu luận này đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về tôn giáo - Thực trạng và giải pháp đảm bảo hiệu lực hiệu quả.
Bố cục tiểu luận gồm 3 phần: Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam Phần thứ hai: Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo, thực trạng và giải pháp đảm bảo hiệu lực, hiệu quả thời gian tới Phần thứ ba: Kết luận. Phần thứ nhất cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam Quản lý về tôn giáo là một lĩnh vực, nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước, đồng thời là của công tác tôn giáo. Nghị quyết số 25/NQ-TW ngày 12-3-2003 của Bộ Chính trị khoá IX về "công tác tôn giáo" đã xác định phải "tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo". a) Khái niệm về tôn giáo Tôn giáo: Thuật ngữ tôn giáo xuất phát từ tiếng La tinh (Relegere), nghĩa là: thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên.
Theo từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học chủ biên xuất bản năm 2005 thì tôn giáo "1. Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ; 2. Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng; sùng bái một hay những vị thần linh nào đó và những lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy". Theo Khoản 3, Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 thì tổ chức tôn giáo là: tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được nhà nước công nhận.
Hoạt động tôn giáo, theo khoản 5, điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 là ". việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo. b) Quản lý nhà nước về tôn giáo Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về tôn giáo nói riêng là hoạt động chức năng của nhà nước. Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước về tôn giáo là quá trình dùng quyền lực nhà nước (cả lập pháp, hành pháp và tư pháp), theo quy định của pháp luật để tác động điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được các mục tiêu của chủ thể quản lý.
Theo nghĩa hẹp: là quá trình chấp hành và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh, hướng dẫn hoạt động các tôn giáo trong quy định của pháp luật. Như vậy, quản lý nhà nước về tôn giáo là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hướng các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích chính đáng của các tín đồ và phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Nhà nước quy định bằng pháp luật các hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa các công dân, các tổ chức xã hội trước pháp luật, hình thành khung pháp lý, làm cơ sở để các tôn giáo thực hiện hoạt động của mình trong khuôn khổ pháp luật. c) Đặc điểm quản lý nhà nước về tôn giáo: * Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp gồm: Chính phủ, UBND các cấp ngoài ra có các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và môi trường, Ban Tôn giáo Chính phủ.
* Khách thể quản lý: Đó chính là hoạt động của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, người tu hành, tín đồ. d) Các nguyên tắc quản lý nhà nước về tôn giáo Một là, nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Hai là, công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân. Ba là, các hoạt động tôn giáo phải tuân thủ pháp luật của nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
Bốn là, mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại nhà nước Việt Nam, ngăn cản tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân, làm tổn hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc và hoạt động mê tín dị đoan đều bị xử lý theo pháp luật. e) Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về tôn giáo Có quan điểm cho rằng, hoạt động tôn giáo là công việc nội bộ của tôn giáo, nó là hoạt động tự quản nên không cần Nhà nước phải quản lý, điều chỉnh, nếu có quản lý nhà nước về tôn giáo thì không có tự do tôn giáo. Có quan điểm, chúng ta đã có Hiến pháp, bộ luật dân sự, hình sự quy định về tự do và bảo vệ tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tự do không tín ngưỡng, tôn giáo do đó, không cần có pháp luật riêng về tôn giáo. Lịch sử từ khi có nhà nước đến nay, không có nhà nước nào không thực hiện chức năng quản lý đối với tôn giáo (trong lịch sử có thời kỳ thần quyền lấn át thế quyền).
Thực tiễn ngày nay cho thấy, ở bất cứ quốc gia nào, ở đâu có tôn giáo, hoạt động tôn giáo thì đều có sự can thiệp điều chỉnh của nhà nước. Không quản lý nhà nước về tôn giáo sẽ dẫn đến các tôn giáo hoạt động vô chính phủ, chèn ép, công kích lẫn nhau, xã hội sẽ không phát triển lành mạnh vì sự sa đà, tốn kém, về sự hiếu chiến hoặc yếm thế của một số tôn giáo, sự lợi dụng tôn giáo để phá hoại đoàn kết dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự xã hội. do đó, quản lý nhà nước về tôn giáo là yêu cầu khách quan của mọi quốc gia. Phần thứ hai Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo; thực trạng và giải pháp đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong thời gian tới I.
Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo 1. Đối với việc thành lập và gia nhập các tổ chức tôn giáo (công nhận pháp nhân) - Thủ tướng Chính phủ công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố; Chủ tịch UBND cấp tỉnh công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động chủ yếu ở tỉnh đó. - Thủ tướng Chính phủ cho phép tổ chức tôn giáo hoạt động thì được pháp luật bảo hộ. Nếu hoạt động trái tôn chỉ, mục đích, đường hướng lãnh đạo đã được Thủ tướng cho phép thì bị đình chỉ hoạt động.
- Tổ chức tôn giáo được thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất các tổ chức trực thuộc thì theo hiến chương, điều lệ của tôn giáo. Việc trên nếu thực hiện ở cơ sở thì phải được sự chấp thuận của UBND cấp tỉnh; các trường hợp khác phải được sự chấp thuận của Thủ tướng. - Các Hội đoàn tôn giáo được hoạt động sau khi tổ chức tôn giáo đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. - Các dòng tu, tu viện và các tôn giáo tu hành tập thể khác của tôn giáo muốn hoạt động phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Để đảm bảo an ninh, trật tự và sự bình đẳng giữa người theo đạo và người không theo đạo, nhà nước cấm không cho nhập tu những người trốn tránh pháp luật và các nghĩa vụ công dân. Đối với việc tiến hành các lễ nghi tôn giáo và hoạt động tôn giáo khác - Người tham gia hoạt động tôn giáo phải tôn trọng quy định của lễ hội, hương ước, quy ước của cộng đồng. Hoạt động tôn giáo đó phải đảm bảo an toàn, tiết kiệm, phù hợp với truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường. - Hàng năm người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở phải đăng ký với chính quyền chương trình hoạt động tôn giáo diễn ra trong năm.