Chương 1: QUAN DIEM, CHÍNH SÁCH CUA DANG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM DOI VỚI TON GIÁO: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN 1. Những vấn đề lý luận về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo ở Việt Nam Đảng và Nhà nước tôn trong va bảo hộ quyén tự do tín ngưỡng tôn giáo. Nhưng cũng rất chú trọng việc quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Chính vì thế, Đảng và Nhà nước luôn đề ra những nhiệm vụ hoạt động của công tác tôn giáo qua các thời kỳ lịch sử.
Vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo đã được Nghị quyết 25-NQ/TW “Về công tác tôn giáo” của Bộ Chính trị, đánh dấu sự đổi mới về tư duy trên lĩnh vực tôn giáo của Đảng. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điển của Đảng. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đô sống tốt đời đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tao điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật.
Đông thời thủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo dé mê hoặc, chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Đề nhận thức tốt những quan điểm, chính sách của Đảng, nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, về mặt lý luận cần phải hiểu rõ những vấn đề sau đây: 1. Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo C.Lénin là những vị lãnh tụ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, các ông đã để lại những tư tưởng lý luận về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, trong đó có những nhận định khoa học và cách mạng về vấn đề tôn giáo.
Kế thừa có phê phán những quan điểm của cã phái duy vật và duy tâm. 3 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lan thứ XI, năm 2011; Khi nghiên cứu về nguồn gốc của tôn giáo, C.Mác đã chi ra răng: “ Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác cua con người chưa tim thấy bản thân mình hoặc lại đánh mất bản thân mình một lan nữa. Con người chính là thé giới những con người, là Nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo ra tôn giáo.
Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực, ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thé giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh than của những điều kiện xã hội không có tinh thân; tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Qua sự phản ánh của tôn giáo, V. Lénin đã định nghĩa: “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức vé tinh thân, luôn luôn và bat cứ ở đâu cũng đè nặng lên quân chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh ban cùn và cô độc”.
Tw tưởng, quan diém Hồ Chí Minh về tôn giáo Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo quan điểm mácxít về tín ngưỡng, tôn giáo trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam. Tư tưởng này được xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ đặc điểm văn hóa Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Các tín ngưỡng, tôn giáo có lịch sử hình thành, phát triển và có đặc điểm riêng, với xu hướng hòa đông, tồn tại dan xen, ảnh hưởng lẫn nhau. Nổi bat trong tư tưởng của Người về tôn giáo là tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà hợp dân tộc và về quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.
Trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, công việc bộn bề, nhưng Người luôn giành những sự quan tâm đặc biệt đến tô chức, cơ sở thờ tự và chức sắc, tín đồ tôn giáo. Ngày 6/3/1946, Người ký sắc lệnh thành lập Liên đoàn Công giáo Việt Nam; ngày 15/3/1946 ký sắc lệnh thành lập Hội Phật giáo Việt Nam. Người xem cơ sở thờ tự của tôn giáo như những công trình lịch sử văn hoá, những công trình phúc lợi xã hội. Những tư tưởng ấy không chi được thé hiện qua những bài viết, lời phát biểu, chỉ thị, sắc lệnh mà còn thông qua những cử chỉ, hành động cũng như phong cách ÝV.
Lénin toàn tập; tập 17, tr 89; Š,V. Lénin toàn tập, tập 11, tr 271; 10 ứng xử của Người đối với tín đồ, giáo sĩ, nhà tu hành các tôn giáo °. Những quan điểm về tôn giáo của chủ nghĩa Mác- Lê nin đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Dang và Nhà nước ta vận dụng sáng tạo trong điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam. Qua đó đã phát huy được vai trò của đồng bao có tín ngưỡng, tôn giáo góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tô quốc.
Những van đề cơ bản đó được thể hiện như sau: - Quan điểm tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Đây là nội dung quan trọng và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, thé hiện nhất quán trong cả hoạt động lý luận và thực tiễn của Người và trở thành nền tảng trong chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, vào ngày 3-9-1945 trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh nêu 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó Người dé nghị Chính phủ tuyên bố “Tín ngưỡng tự do va Lương Giáo đoàn kết”. Dé đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được thực thi, Hồ Chí Minh cho rằng, về nguyên tắc hoạt động của các tô chức tôn giáo phải tuân theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ.
Với tinh than đó, Người kiên quyết dau tranh với những kẽ lợi dụng tôn giáo làm tốn hại đến lợi ít dân tộc, chỉ đạo Chính phủ xây dựng các chủ trương, giải pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả các quyền đó, đồng thời Người trực tiếp ký, ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định cụ thé về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân. Hiến pháp đầu tiên (thông qua ngày 2-3-1946) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ghi rõ “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Ngoài ra, Người cũng rất chú trọng đến tín ngưỡng truyền thống, nhất là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Người cho rằng, đây là một hiện tượng xã hội bình thường, để nhắc nhở hậu thế ghi lòng, tạc dạ công ơn của các bậc tiền bối. Tổ tiên được tôn kính thì anh em mới thuận hòa.
- Quan điểm đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc. Do đặc điểm của lịch sữ hình thành dân tộc ở Việt Nam, các tôn giáo khác nhau có hệ thống giáo lý, giáo ° Hỗ Chi Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. CTOG, Hà Nội, 1995, 1. 11 luật, chức sắc, tín đồ và phương pháp hành đạo khác nhau nhưng điều tồn tại trong lòng dân tộc.
Vì vậy theo quan điểm của Người là đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tôn giáo, giới tin, độ tudi. Người nói rõ: Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải thủ đọan chính trị, ta đòan kết dé dau tranh và xây dụng nước nhà, ai có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết họ, nhằm hòa hợp dân tộc, đoàn kết lương giáo, tạo động lực xây dựng đất nước. Tôn trọng quyên tự do tín ngưỡng của nhân dân khắc phục những mặc cảm, định kiến, chống lại âm mưu chống phá của thế lực thù địch. Bên cạnh tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Người còn đề cập đến van đề chống lợi dụng tín ngưỡng và bài trừ mê tín di đoan.
- Quan điểm về mối quan hệ giữa tôn giáo với một số lĩnh vực khác. Người đã nhìn thấy mối liên hệ giữa tôn giáo với các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó có cách tiếp cận đa chiều dưới góc độ văn hóa, đạo đức, xã hội học, đồng thời nghiên cứu khai thác những giá trị tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống tinh thần của xã hội: tôn giáo với dân tộc, tôn giáo với văn hóa, tôn giáo với đạo đức, tôn giáo với chính trị. Đối với một người có tôn giáo thì họ vừa có thé là người dân yêu nước, đồng thời cũng là một tín đồ chân chính. Những giá trị tốt đẹp của tôn giáo cùng với dân tộc và thời đại Hồ Chí Minh góp thêm tính phong phú, đa dạng cho cuộc sống tỉnh thần của xã hội.
Những van đề về tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam là cơ sở cho quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam 12. Những đặc điểm tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam - Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc, tôn giáo và hình thức tín ngưỡng Tính đến tháng 12 năm 2020 nước ta có 16 tôn giáo và 36 tô chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, với khoảng 26,3 triệu tín đồ, hơn 58.000 cơ sở thờ tự: “Phật giáo trên 12 triệu, Thiên chúa giáo 8,1 triệu, Cao đài 4,2 triệu, Hòa hảo 2,46 triệu, Tin lành gần 2,3 triệu, Hồi giáo 82,732 nghìn, Tịnh độ cư sĩ phật hội 1,8 triệu, Tứ ân hiểu nghĩa 78 nghìn, Minh lý 12 đạo Tam tông miéu 1,058 nghìn, đạo Ba thai 7 nghìn, Bàlamôn 54,068 nghìn, Phật đường Minh sư đạo 11,124 nghìn, Bửu sơn Kỳ Hương 15 nghìn” 7. - Các tín ngưỡng, tôn giáo đan xen, hòa đồng, hỗn dung Mặc dù tín ngưỡng tôn giáo ở nước ta đa dang và có tính đan xen, hòa đồng nhưng không có kỳ thị, tranh chấp và xung đột tôn giáo. Các tín ngưỡng truyền thống và tàn du của tôn giáo nguyên thủy van in dấu khá sâu trong đời sống tinh thần của người Việt cho đến ngày nay.
Tính đến tháng 6 năm 2019 cả nước có hơn 45.000 cơ sở tín ngưỡng.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới.