Chương 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1. Một số vấn đề lý luận Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng. Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là yêu cầu khách quan của công tác tôn giáo. Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác tôn giáo đều nhấn mạnh đến vai trò của lĩnh vực công tác này.
Gần đây, Nghị quyết số 25 – NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo tiếp tục khẳng định cần “Tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo” [28, tr. Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo và hoạt động tôn giáo, về mặt lý luận cần nhận thức thống nhất một số vấn đề cơ bản sau đây: 1. Những khái niệm cơ bản * Khái niệm quản lý: Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý” cho đến nay vẫn có nhiều cách hiểu. Tùy từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau, dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đưa ra những quan điểm khác nhau về quản lý.
Có quan điểm coi quản lý là tiến trình bao gồm các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt mục tiêu đã định trước. Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. 8 z Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, song thuật ngữ quản lý đều được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý thống nhất ở hai nội dung: Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý. Thứ hai, mục tiêu quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động (vận hành) phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước.
Nói đến quản lý trước hết đó là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý. Sự tác động này không phải mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng. Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là hướng đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của mình. Từ hai nội dung trên, có thể đưa ra khái niệm về quản lý: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước [46, tr.
* Khái niệm quản lý nhà nước: Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất lâu và bao gồm nhiều loại, trong đó quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Quản lý xã hội xuất hiện từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa. Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của nhà quản lý và quy luật khách quan. Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành, khi nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do nhà nước đảm nhiệm.
Hiện nay, khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: - Nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và các hành vi hoạt động của con 9 z người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng nhà nước đối với xã hội. - Nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) [46, tr. * Khái niệm tôn giáo: Theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan. Qua hình thức phản ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở thành thần bí “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [51, tr.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo dựa trên những luận điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, vừa là sự vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển vào điều kiện Việt Nam và thời đại. Trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đề ra những chủ truơng, chính sách pháp luật, một mặt thể hiện tự do tín ngưỡng của nhân dân, mặt khác chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo chống phá nước ta của các thế lực thù địch. Hiện nay ở Việt Nam, khái niệm tôn giáo chưa được giải thích cụ thể, tuy nhiên, tùy cách tiếp cận mà đưa ra cách hiểu khác nhau về tôn giáo. Về phương diện quản lý nhà nước, tôn giáo được hiểu là một cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên, huyền bí, có hệ thống giáo lý hay một giáo chủ, có một kết cấu là tổ chức giáo hội.
10 z * Khái niệm hoạt động tôn giáo: Điều 3, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo đã khẳng định: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, quản lý tổ chức của tôn giáo” [37, tr. Việc truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là tuyên truyền những lý lẽ về nguồn gốc sự ra đời, luật lệ của tổ chức tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền giáo, niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôn giáo của tín đồ được thực hiện. Đối với những người chưa phải tín đồ, hoạt động truyền giáo giúp họ hiểu, tin theo tôn giáo và thông qua hoạt động truyền đạo để phát triển thêm số lượng tín đồ.
Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thỏa mãn đức tin tôn giáo của cá nhân tôn giáo hay cộng đồng tín đồ. Hoạt động quản lý tổ chức tôn giáo (còn gọi là quản đạo) nhằm thực hiện quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo. Trong các hoạt động trên, việc phân định ranh giới giữa hoạt động truyền đạo với hoạt động hành đạo cũng chỉ là tương đối, có không ít trường hợp trong hoạt động hành đạo có truyền đạo. * Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Từ các khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, tôn giáo, hoạt động tôn giáo, có thể đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước đối với tôn giáo theo hai nghĩa như sau: - Nghĩa rộng: Là quá trình dùng quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật và đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
11 z - Nghĩa hẹp: Là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp lụât của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật [46, tr. Yêu cầu khách quan, mục tiêu và nguyên tắc của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo * Yêu cầu khách quan Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là công việc tất yếu của nhà nước, trong đó có nhà nước Việt Nam. Trong quá trình quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo có một số quan điểm cho rằng, hoạt động tôn giáo là hoạt động mang tính chất nội bộ của tôn giáo, nhà nước không cần phải quản lý, điều chỉnh vì nếu nhà nước quản lý thì sẽ không còn tự do tôn giáo. Tuy nhiên, hoạt động tôn giáo không chỉ thuần tuý nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, mà còn liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội.
Ví dụ như việc xây dựng nơi thờ tự, không chỉ đơn thuần là việc củng cố, phát triển cơ sở vật chất của giáo hội, mà còn liên quan đến những quy định của Nhà nước về đất đai, quy hoạch, xây dựng; hoạt động in ấn kinh bổn, sản xuất đồ dùng việc đạo liên quan đến những quy định về văn hoá, xuất bản; hoạt động quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn giáo nước ngoài liên quan đến chính sách, pháp luật trên lĩnh vực đối ngoại, xuất nhập cảnh của nhà nước,. Mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và mọi công dân liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội đều phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước. Tôn giáo và hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể đứng ngoài pháp luật của quốc gia đó. Thực tiễn hiện nay cho thấy, ở đâu có hoạt động tôn giáo thì đều có sự can thiệp, quản lý của nhà nước.
12 z Tuy nhiên sự quản lý, điều chỉnh của nhà nước ở mức độ nào thì có sự khác nhau, còn tùy thuộc vào từng nhà nước. Bên cạnh đó, yêu cầu của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không chỉ xuất phát từ ý chí của nhà nước mà còn xuất phát từ thực tiễn khách quan của sự hình thành, tồn tại, phát triển và những ảnh hưởng của tôn giáo trong lịch sử, trong đời sống xã hội hiện tại và tương lai.