Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO 1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện chính sách tôn giáo 1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện chính sách tôn giáo 1. Khái niệm tôn giáo Trong các văn bản pháp luật quản lý nhà nước (QLNN) liên quan đến công tác tôn giáo và thực hiện CSTG ở Việt Nam đến thời điểm hiện tại thì vẫn chưa một có tài liệu cụ thể nào có thể giải thích, chứng minh một cách cụ thể về khái niệm định nghĩa về tôn giáo.
Song một khi đã nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh thì s có những dấu hiệu cơ bản thể hiện sự đổi mới và góc nhìn cụ thể sau đây: nói đến tôn giáo là đang nói đến một hệ thống có tổ chức hoạt động từ trên xuống cơ sở khá chặt ch , nói đến tôn giáo là đang nói đến một cộng đồng người đang có cùng chung một niềm tin vào một thế lực siêu nhiên, huyền bí và nói đến tôn giáo là đang nói đến một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi. Sau đây có thể khái niệm: "Tôn giáo là một hệ thống bao gồm những quan niệm về tín ngưỡng, những quan niệm về sự sùng bái một hay nhiều vị thần linh và tôn giáo là những quan niệm hình thức lễ nghi để thể hiện sự sùng bái ấy” [16, tr. Hay theo tác giả Nguyễn Văn Xô đã định nghĩa rằng (Từ điển tiếng Việt, 1999) thì: "Tôn giáo là một hệ thống bao gồm những quan niệm tín ngưỡng về một hay những vị thần nào đó và tôn giáo thể hiện những hình thức lễ nghi biểu hiện sự sùng bái đó” [32, tr. 11 Sau khi tiến hành phân tích và tiếp cận về mặt bản chất thì chúng ta có thể hiểu khai niệm về tôn giáo theo cách hiểu sau đây: “tôn giáo là một hình thái của ý thức xã hội dùng để nêu lên hình thức phản ánh tồn tại xã hội.
Về mặt hình thức biểu hiện của tôn giáo có thể nhận thấy được rằng, mỗi tôn giáo bao gồm một hệ thống các quan niệm về tín ngưỡng (giáo lý), hệ thống các quy định về kiêng cữ, cấm kỵ (giáo luật), các hình thức về thờ cúng, lễ bái (giáo lễ) và những cơ sở vật chất để thực hiện các nghi lễ tôn giáo (giáo đường - cơ sở thờ tự)” [16, tr. Khái niệm chính sách tôn giáo Trong các tuyên ngôn bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chứng minh được phần nào cách hiểu về chính sách tôn giáo, người cho rằng chính sách tôn giáo là: “Lực lượng toàn dân là một lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai có thể chiến thắng được lực lượng vĩ đại đó”, “Tôn giáo tự do, Lương - Giáo đoàn kết”, “Kính Chúa gắn liền với yêu nước; phụng sự Thiên chúa và phụng sự Tổ quốc; nước có vinh thì đạo mới sáng; nước có độc lập thì tôn giáo mới được tự do” về sự gắn bó, đoàn kết trong vấn đề tôn giáo, sự hòa hợp dân tộc, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tôn giáo và không tôn giáo thì đã thể hiện rõ tư tưởng của Người được thể hiện sinh động. Trong những đạo luật cơ bản như: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, CSTG của Việt Nam đã được nêu rõ khẳng định rằng: “Công dân có quyền tự do tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Không một ai được quyền xâm phạm đến tự do tôn giáo hoặc lợi dụng vấn đề về tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 70, Chương V- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992) và Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng việc hoàn chỉnh hệ thống 12 pháp luật để bảo đảm quyền tự do tôn giáo và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo. Pháp lệnh tôn giáo (hiệu lực thi hành từ ngày 15-11-2004), cũng thể hiện chính sách dân chủ, tôn trọng quyền tự do tôn giáo của nhân dân; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức tôn giáo; trách nhiệm của các cơ quan QLNN trong việc bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt tôn giáo; tôn trọng, bảo đảm nguyên tắc những việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo do các tôn giáo tự giải quyết theo Hiến chương, Điều lệ của các tôn giáo đã được Nhà nước công nhận. Thể chế hóa những nguyên tắc cơ bản đối với tôn giáo trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, với những văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước quy định về hoạt động tôn giáo.
Luật tôn giáo năm 2016 là chính sách cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về công tác tôn giáo và thực hiện CSTG, là sự khẳng định chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam đối với công tác tôn giáo và thực hiện CSTG, tạo ra một môi trường pháp lý an toàn, quan trọng trong việc thực hiện công tác QLNN về tôn giáo; bảo đảm quyền tự do tôn giáo của công dân, đáp ứng các nhu cầu liên quan đến công tác tôn giáo và thực hiện CSTG đang diễn ra phong phú, sống động ở Việt Nam thời kỳ đổi mới hiện này, nagyf càng phù hợp với truyền thống văn hóa, đạo đức xã hội, pháp luật Việt Nam và những điều ước quốc tế mà nước Việt Nam ta đã gia nhập là Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị; là bước tiến quan trọng xây dựng mối quan hệ ổn định, bền vững giữa Nhà nước và các tổ chức tôn giáo, góp phần xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Như vậy, có thể khái niệm về CSTG như sau: 13 “Chính sách Tôn giáo là hệ thống tư tưởng, quan điểm, phương sách, kế hoạch đề ra, nhằm đạt mục đích làm cho hoạt động tôn giáo trở nên ngày càng phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Khái niệm thực hiện chính sách tôn giáo Kể từ khi xuất hiện th tôn giáo đã tỏ rõ sự quan trọng, có vai trò, vị trí to lớn và có những đóng góp ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa của nhân loại. Công tác thực hiện CSTG phải tuân thủ các nguyên tắc cụ thể như sau: phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo, công tác đại đoàn kết toàn dân tộc, mọi tổ chức và cá nhân đều có quyền và nghĩa vụ b nh đẳng ngang nhau đã được Chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện rất rõ ràng.
Công tác thực hiên CSTG đã được tổ chức thực hiện theo phương hướng là tách tôn giáo ra khỏi chính trị ở Việt Nam cũng như các ở thể chế dân chủ, nhà nước pháp quyền; tôn giáo đã trở thành công việc của cá nhân. Theo Nguyễn Văn Long (2018), cho rằng: “Các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn của Nhà nước đối với tôn giáo và thực hiện CSTG đã thực hiện trong thời gian qua ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rất to lớn”[15]. Nhiều chương tr nh đã được thực hiện nói về công tác đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào, tín đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo, nhất là đồng bào DTTS ở vùng miền núi khó khăn; Đăng và nhà nươc, tổ chức chính quyền địa phương luôn tạo điều kiên bảo đảm và thuận lợi nhất cho các hoạt động của tôn giáo thực hiện theo đúng pháp luật, chính sách của nhà nước, nhất là các chương tr nh hoạt động củacác lễ hội lớn, quan trọng của các tôn giáo lớn, như các lễ kỷ niệm Ngày Khai đạo của đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo, lễ Giáng sinh của đạo Tin lành, lễ Phục sinh của đạo Công giáo và đạo Tin lành, lễ Phật đản của Phật giáo đã được quan tâm tạo điều kiện để lễ hội được tổ chức một cách trang 14 trọng với đông đảo tín đồ các tôn giáo tham gia đã được các tổ chức chính quyền ở Việt Nam thực hiện. Đông đảo đồng bào có đạo hiện nay trong cả nước luôn được chính quyền địa phương quan tâm, vận động để các tín đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo nêu cao tinh thần yêu nước, tăng cường đoàn kết, chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, luôn tích cực đi đầu, tham gia đóng góp vào sự nghiệp chung của cách mạng nước nhà dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự QLNN của các cơ quan, đơn vị, ban ngành có liên quan.
Tấm lòng từ bi bác ái, tinh thần đoàn kết, tương trợ, sự phấn khởi, tin tưởng của đồng bào, tín đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo nói riêng cũng như nhân dân cả nước nói chung. Đối với Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành vận động, tuyên truyên, nâng cao sự nhìn nhận của các tín đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo được các tôn giáo nâng cao, quan tâm nhiều hơn và đã thể hiện qua các phong trào như: xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, xây dựng “Cơ sở tôn giáo văn hóa”, “Xứ họ đạo tiên tiến”, “Gia đình Công giáo gương mẫu”. Đó cũng là những bằng chứng sống động, hiện thực nhất về tình hình tôn giáo và thực hiện CSTG ở Việt Nam. Thực hiện CSTG là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý thức của các chủ thể của chính sách tôn giáo thành hiện thực nhằm đạt được các mục tiêu nhất định đã đề ra là việc thực hiện CSTG.
CBCC làm công tác quản lý về công tác tôn giáo và thực hiện CSTG thfi chúng tac có thể hiểu rằng đối tượng hưởng lợi và các đơn vị có liên quan là đối tượng thực hiện CSTG. Như vậy, qua những minh chứng cụ thể đó chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa khái niệm về thực hiện CSTG như sau: “thực hiện CSTG là bằng hoạt động có cơ sở lý luận làm cho CSTG trở thành thực tiễn cuộc sống xã hội”. Đặc điểm thực hiện chính sách tôn giáo – CSTG được làm ra bởi nhà nước. Để đảm bảo CSTG được làm ra theo cách tốt nhất có thể và được tiến hành thực thi sao cho có hiệu lực, hiệu quả nhất thì Nhà nước là chủ thể có thẩm quyền quyết định ban hành CSTG, với những nguồn lực công.
Chủ thể ban hành CSTG ở Việt Nam khá phong phú, bao gồm các chủ thể thực hiện CSTG ở trung ương (TW) và địa phương như: Quốc hội, Chính phủ (CP), Thủ tướng Chính phủ (TTCP), các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân (HĐND) và UBND các cấp.