Chương 1- Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của chính sách nhà ở xã hội Chương 2- Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chương 3- Thực trạng chính sách nhà ở xã hội tại Việt Nam Chương 4- Giải pháp chủ yếu tiếp tục hoàn thiện chính sách nhà ở xã hội tại Việt Nam 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIẾN CỦA CHÍNH SÁCH NHÀ Ở XÃ HỘI 1.1- Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1- Các công trình đăng trên sách báo, tạp chí Có rất nhiều bài báo viết về nhà ở và nhà ở xã hội trên các loại báo và tạp chí, trong khuôn khổ luận văn này tác giả chỉ nêu một số bài tiêu biểu: (1)- Lê Hải, 2015. Những kinh nghiệm phát triển nhà ở xã hội của Singapore3. Bài báo nhận định Chiến lược phát triển nhà ở xã hội của Singapore thành công dựa trên ba nhân tố quyết định. Trước hết, Singapore đã thực hiện chính sách một cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm về nhà ở xã hội để phân bổ và quy hoạch nguồn lực hiệu quả hơn.
Việc này vừa giúp cho HDB có khả năng bảo đảm quỹ đất, nguyên liệu và nguồn nhân lực cho các công trình xây dựng quy mô lớn, vừa bảo đảm tiết kiệm chi phí song lại đạt kết quả cao nhất. Thứ hai, áp dụng phương thức tiếp cận tổng thể đối với nhà ở. Từ quy hoạch, thiết kế cho đến thu hồi đất và xây dựng, thông qua phân phối, quản lý, bảo trì, các nhiệm vụ liên quan đến nhà ở nằm trong một tổng thể trọn vẹn, liền mạch. Cuối cùng là có sự định hướng cũng như hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ về lĩnh vực tài chính và pháp lý đã giúp cho chương trình nhà ở xã hội đi đúng lộ trình và đến được với người dân có nhu cầu thực sự.vn/nhung-kinh-nghiem-phat-trien-nha-o-xa-hoi-cua- singapore/304194.
Xây nhà ở xã hội - Trọng tâm chính sách của nhiều quốc gia4. Bài báo đã chỉ rõ, hiện nay, khoảng 330 triệu hộ gia đình trên toàn thế giới đang phải sống trong các khu nhà ổ chuột hoặc phải chi số tiền quá lớn trong thu nhập của mình cho vấn đề “nơi ăn chốn ở”. Tới năm 2025, con số này thậm chí có thể tăng lên 440 triệu hộ gia đình, tức 1,6 tỷ người. Do đó, nhà ở xã hội là một chủ đề trọng tâm mà các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới luôn phải quan tâm.
Nhà ở xã hội tại Việt Nam: quan niệm, chính sách và thực tiễn5. Bài báo cho rằng, nhà ở xã hội là một khái niệm còn tương đối mới ở Việt Nam và mới chỉ chính thức xuất hiện trong khoảng 10 năm trở lại đây. Là một khái niệm mới kế thừa các quan điểm bao cấp về nhà ở cũng như chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện hiện tại, khái niệm nhà ở xã hội cũng như các nội hàm liên quan đến nhóm đối tượng thụ hưởng và điều kiện tiếp cận đã liên tục được điều chỉnh và bổ sung trong các văn bản pháp luật liên quan. Thông qua việc phân tích các văn bản này, chúng ta có thể nhận thấy một số điểm nghịch lý hoặc mất cân bằng trong phát triển nhà ở xã hội ở nước ta như số nhóm đối tượng thụ hưởng ngày càng được bổ sung nhưng song song với điều đó là các điều kiện tiếp cận quỹ nhà này ngày càng cụ thể và khắt khe.
Ngày càng khắt khe hơn với các nhóm đối tượng thụ hưởng nhưng lại cung cấp ngày càng nhiều ưu đãi hơn đối với chủ đầu tư nhằm khuyến khích sự tham gia cao nhất của các thành phần kinh tế vào phân khúc thị trường này. Ưu đãi đầu tư nhiều nhưng hiệu quả xây dựng nhà ở xã hội lại không được như mong muốn, thể 4 http://baodientu.vn/Quoc-te/Xay-nha-o-xa-hoiTrong-tam-chinh-sach-cua-nhieu- quoc-gia/221178.vgp 5 http://ashui.com/mag/chuyenmuc/bat-dong-san/10853-nha-o-xa-hoi-tai-viet-nam-quan- niem-chinh-sach-va-thuc-tien.html 6 hiện ở số lượng dự án được đăng ký cũng như một tỷ lệ rất thấp các dự án đã khởi công và số căn nhà ở xã hội đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Thông qua những thay đổi, điều chỉnh và bổ sung trong chính sách nhà ở xã hội, có thể thấy việc xây dựng và vận hành thị trường nhà ở xã hội là một quá trình động và vẫn luôn tiếp diễn, trong đó các nhà quản lý cũng lắng nghe những phản hồi và nhu cầu từ các bên tham gia nhằm có được những bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên, do vẫn bị ảnh hưởng bởi tư duy bao cấp về nhà ở cũng như bị hạn chế bởi những định chế khác nằm ngoài vấn đề nhà ở xã hội như chế độ sở hữu, quy định về tình trạng cư trú…, các thay đổi và điều chỉnh này đôi khi lại không mang tới được những kết quả phát triển và khuyến khích nhà ở xã hội như mong muốn.
Nhằm phát triển hơn nữa nhà ở xã hội trong tương lai, trong thời gian tới về phía cơ quan quản lý thì Chính phủ và các chính quyền địa phương cần đẩy mạnh triển khai công tác quy hoạch nhằm có được về quỹ đất dành cho nhà ở xã hội, phân bổ đúng nguồn ngân sách theo quy định dành cho quỹ nhà ở này. Để thực sự khuyến khích chủ đầu tư từ các thành phần kinh tế tham gia xây dựng nhà ở xã hội, các bước thủ tục hành chính cần được đơn giản hóa và việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư cần được hỗ trợ để hiện thức hóa hơn nữa chứ không chỉ dừng lại ở những cam kết trên văn bản. Đối với người dân thì cần phải bỏ đi những ràng buộc không hợp lý như về tình trạng cư trú, đồng thời định lượng rõ hơn các yêu cầu về điều kiện nhà ở hiện tại cũng như điều kiện kinh tế và thu nhập hộ gia đình để người dân dễ dàng hơn trong việc tiếp cận quỹ nhà ở xã hội. 7 (4)- Trần Thị Kim Xuyến, Phạm Thị Thùy Trang, 2014.
Những vấn đề nhà ở cho người nghèo tại Thành phố Hồ Chí Minh,6 Bài báo chỉ ra: sự phân tầng về mức sống và sự khác biệt trong lợi thế về nhà ở, tại thành phố Hồ Chí Minh, người nghèo thường sống trong các ngôi nhà đơn sơ tại những địa bàn cơ sở hạ tầng còn yếu kém; từ nghiên cứu của mình các tác giả cho rằng nhà ở cho người thu nhập thấp đang là vấn đề thời sự vì trên thực tế hiện nay kết quả của các chương trình nhà ở không đến được với người có thu nhập thấp. Nhóm tác giả trích dẫn khuyến nghị của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), có 7 trụ cột cho chính sách nhà ở: (i) Cải thiện quyền sở hữu (ii) Phát triển tín dụng bất động sản (iii) Triển khai hệ thống hỗ trợ có định hướng tốt (iv) Mở rộng nguồn cung cấp đất đô thị (v) Cung cấp khung pháp lý cho việc phát triển đất và bất động sản (vi) Làm nổi bật tính cạnh tranh của nghành kinh doanh bất động sản (vii) Phát triển khung thể chế cho chính sách nhà ở cấp quốc gia. Đây là những gợi ý tốt, tác giả luận văn sẽ kế thừa trong quá trình hoàn thành luận văn. (5)- Lê Thị Mai, 2014.
Vấn đề nhà ở đô thị cho người nghèo: lý thuyết, thực tế và hướng tiếp cận. Bài viết dựa trên dữ liệu của một số kết quả nghiên cứu đã thực hiện về vấn đề nhà ở đô thị cho người nghèo hướng đến môi trường sống tốt hơn và bền vững. Để đóng góp vào việc chia sẻ những thách thức và sáng kiến nhằm cải thiện môi trường sống, chia sẻ những điểm tương đồng giữa các quốc gia đang phát triển và phát triển, nội dung bài viết tập trung vào khía cạnh lý thuyết, thực tiễn và hướng tiếp cận nghiên cứu vấn đề đô thị hóa, nhà ở đô thị cho người nghèo hướng đến môi trường sống bền vững của một số quốc gia. 6 Kỷ yếu Hội thảo “Nhà ở khu dân cư nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh và những giải pháphướng đến môi trường sống tốt hơn trong tương lai”, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh và Tổ chức Rosa Luxemburg Stiftung tổ chức, 2014.
8 Bài viết đóng góp vào việc chia sẻ tri thức, nâng cao nhận thức tạo nên sự thay đổi xã hội bằng những giải pháp hữu ích trong phân tích thực tiễn và xây dựng chính sách. (6)- Nguyễn Thị Hồng Xoan, Trần Thị Anh Thư, Nguyễn Xuân Anh, 2014. Nghèo đói, nhà ở và vấn đề môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bài báo đã phân tích và nhận định có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa nghèo đói, nhà ở và vấn đề môi trường sống ở khu vực đô thị.
Người nghèo do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên phải chấp nhận sinh sống trong các không gian nhà ở chật hẹp, thiếu vệ sinh. Môi trường sống của khu dân cư bị ô nhiễm bởi lối sống tạm bợ và bừa bãi, cũng như bị ảnh hưởng nặng nề của tình trạng ô nhiễm đô thị do quá trình đô thị hóa quá nhanh ở thành phố này. Người nghèo có thể xem là nạn nhân, chịu thiệt thòi nhất của tình trạng ô nhiễm không khí, tiếng ồn, rác và nước thải. Người nghèo trên địa bàn khảo sát khi không có lựa chọn nào khác, họ đành phải tìm cách thích ứng với điều kiện sống hiện tại.
Thái độ “lạc quan” gắn liền với các phương thức thích nghi và khai thác các “điểm mạnh” từ cộng đồng dân cư nghèo như tính cố kết cộng đồng cao, có thể kiếm sống từ chính tại nơi cư ngụ. Đối với người nghèo đô thị, tạo dựng nhà ở là một quá trình chứ không phải điều kiện. Để có được một ngôi nhà, họ phải tích lũy và xây dựng trong nhiều năm. Như vậy, có thể xem nhà ở như là một chỉ báo để xác định tình trạng nghèo của họ.
Do đó, để góp phần nâng cao điều kiện sống của những hộ nghèo, chính quyền địa phương cần phải có những chính sách thích hợp nhằm cải thiện nhà ở của họ. Nhìn chung, có thể nhận thấy rằng, trong nhiều năm, chính quyền chỉ tập trung giải quyết các vấn đề nhà ở cho những hộ có hộ khẩu thường trú hoặc những hộ bị ảnh hưởng bởi chương trình cải tạo và chỉnh trang đô thị. Còn n hững hộ nghèo đô thị với thu nhập thấp, và người nhập cư đã không được quan tâm đến một cách đúng mức. 9 (7)- Lê Thị Thủy, 2014.
Hỗ trợ phát triển dựa vào cộng đồng - Bài học thành công từ các dự án nhà ở của Hiệp hội các đô thị Việt Nam.