Luận văn thạc sĩ giám sát quản lý nhà nước ở huyện Bố Trạch, Quảng Bình

Nghiên cứu chuyên sâu về luận văn thạc sĩ giám sát quản lý nhà nước tại huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giám sát quản lý nhà nước tại huyện Bố Trạch Quảng Bình

Giám sát quản lý nhà nước là hoạt động quan trọng nhằm kiểm soát quyền lực công, ngăn ngừa lạm quyền và nâng cao hiệu quả quản lý hành chính. Tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, hoạt động giám sát được thực hiện thông qua cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước như Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp huyện, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội. HĐND huyện Bố Trạch, với vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước địa phương, thực hiện giám sát đối với Ủy ban nhân dân (UBND) huyện thông qua các kỳ họp, báo cáo công tác và hoạt động giám sát chuyên đề. Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 cùng các văn bản pháp luật khác đã tạo khung pháp lý vững chắc cho hoạt động giám sát, đảm bảo tính minh bạch, dân chủ trong quản lý nhà nước tại địa phương.

1.1. Khái niệm và vai trò giám sát quản lý nhà nước

Giám sát quản lý nhà nước được hiểu là quá trình theo dõi, đánh giá hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật, hiệu quả và trách nhiệm giải trình. Tại huyện Bố Trạch, giám sát được thực hiện thông qua ba hình thức chính: giám sát trực tiếp của HĐND, giám sát thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và giám sát từ phía nhân dân. HĐND huyện đóng vai trò trung tâm trong việc giám sát UBND huyện, thông qua việc xem xét báo cáo công tác, chất vấn và giám sát chuyên đề. Giám sát không chỉ giúp phát hiện sai phạm mà còn thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công.

1.2. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động giám sát

Hoạt động giám sát quản lý nhà nước tại huyện Bố Trạch được điều chỉnh bởi Hiến pháp 2013, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, Luật Thanh tra 2010, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015 và các văn bản pháp luật khác. Hiến pháp 2013 khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các nhánh quyền lực. Luật hoạt động giám sát quy định cụ thể về quyền hạn, nhiệm vụ của HĐND trong giám sát UBND, trong khi Luật Thanh tra quy định về thanh tra chuyên ngành. Các văn bản này tạo nền tảng pháp lý vững chắc, đảm bảo hoạt động giám sát diễn ra minh bạch và hiệu quả.

II. Thực trạng giám sát quản lý nhà nước tại huyện Bố Trạch giai đoạn 2016 2021

Giai đoạn 2016-2021, huyện Bố Trạch đã triển khai nhiều hoạt động giám sát quản lý nhà nước thông qua HĐND huyện, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và sự tham gia của nhân dân. HĐND huyện tổ chức hai kỳ họp thường niên để xem xét báo cáo công tác của UBND huyện, chất vấn các lĩnh vực trọng điểm như đầu tư công, giải quyết khiếu nại tố cáo. Hoạt động giám sát chuyên đề được thực hiện định kỳ, tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm như quản lý đất đai, ngân sách. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện đã thành lập Ban Thanh tra nhân dân cấp xã và Ban giám sát đầu tư cộng đồng, góp phần tăng cường giám sát từ phía xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế như thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, thiếu nguồn lực cho hoạt động giám sát.

2.1. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện

HĐND huyện Bố Trạch thực hiện giám sát thông qua hai kỳ họp thường niên, nơi các đại biểu xem xét báo cáo công tác của UBND huyện, chất vấn các ngành và giám sát chuyên đề. Kỳ họp giữa năm tập trung vào đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm, trong khi kỳ họp cuối năm quyết định ngân sách và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. HĐND cũng tổ chức giám sát chuyên đề về các lĩnh vực như đầu tư công, quản lý đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo. Hoạt động giám sát được thực hiện bởi các Ban của HĐND như Ban Pháp chế và Ban Kinh tế-Xã hội, với sự tham gia của đại biểu HĐND theo tổ đại biểu.

2.2. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cộng đồng

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Bố Trạch đã thành lập Ban Thanh tra nhân dân cấp xã và Ban giám sát đầu tư cộng đồng nhằm tăng cường giám sát từ phía xã hội. Ban Thanh tra nhân dân cấp xã giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo tại cấp cơ sở. Ban giám sát đầu tư cộng đồng giám sát sự phù hợp của quyết định đầu tư với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Sự tham gia của cộng đồng thông qua các hình thức giám sát như góp ý kiến, phản ánh đã góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương.

III. Đánh giá ưu điểm và hạn chế trong giám sát quản lý nhà nước huyện Bố Trạch

Hoạt động giám sát quản lý nhà nước tại huyện Bố Trạch giai đoạn 2016-2021 đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. HĐND huyện đã tổ chức các kỳ họp, giám sát chuyên đề và chất vấn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cộng đồng đã tham gia tích cực thông qua các hình thức giám sát từ phía xã hội. Các cơ chế giám sát đã góp phần phát hiện và ngăn chặn sai phạm, thúc đẩy cải cách hành chính. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế như thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan giám sát, thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực cho hoạt động giám sát. Bên cạnh đó, sự tham gia của cộng đồng chưa thực sự sâu rộng do nhận thức hạn chế của người dân về quyền giám sát.

3.1. Những ưu điểm nổi bật trong thực tiễn giám sát

Một trong những ưu điểm nổi bật là HĐND huyện đã xây dựng được cơ chế giám sát khá hoàn chỉnh thông qua các kỳ họp, giám sát chuyên đề và chất vấn. Hoạt động giám sát đã góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của UBND huyện, cải thiện chất lượng dịch vụ công. Sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cộng đồng đã tăng cường tính minh bạch, giúp phát hiện kịp thời những bất cập trong quản lý. Các cơ chế giám sát đã được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động giám sát.

3.2. Những tồn tại và nguyên nhân hạn chế

Tồn tại lớn nhất là thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng, dẫn đến hiệu quả giám sát chưa cao. Thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực cũng là rào cản lớn, khiến hoạt động giám sát chưa thể triển khai rộng rãi. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về quyền giám sát còn hạn chế, dẫn đến sự tham gia chưa thực sự sâu rộng. Ngoài ra, một số quy định pháp luật còn thiếu cụ thể, gây khó khăn trong triển khai giám sát thực tế.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát quản lý nhà nước huyện Bố Trạch

Để nâng cao hiệu quả giám sát quản lý nhà nước tại huyện Bố Trạch, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như tăng cường phối hợp giữa các cơ quan giám sát, nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền giám sát, và bổ sung nguồn lực tài chính, nhân lực cho hoạt động giám sát. HĐND huyện cần tăng cường giám sát chuyên đề, chất vấn sâu hơn đối với các lĩnh vực trọng điểm. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về quyền giám sát. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện khung pháp lý, bổ sung các quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan giám sát.

4.1. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan giám sát

Để nâng cao hiệu quả giám sát, cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng. HĐND huyện cần tăng cường giám sát đối với UBND huyện thông qua các kỳ họp, giám sát chuyên đề và chất vấn. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ với HĐND trong việc tổ chức giám sát từ phía xã hội. Các cơ quan chức năng cần cung cấp đầy đủ thông tin cho hoạt động giám sát, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

4.2. Nâng cao nhận thức và vai trò của cộng đồng

Cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về quyền giám sát thông qua các hình thức như hội nghị, tuyên truyền trên phương tiện truyền thông. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện cần tổ chức các hoạt động giám sát cộng đồng, khuyến khích người dân tham gia đóng góp ý kiến. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, như ghi nhận những đóng góp tích cực trong hoạt động giám sát.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026
Luận văn thạc sĩ giám sát quản lý nhà nước từ thực tiễn huyện bố trạch tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở CẤP HUYỆN 1. Khát quát chung về hoạt động giám sát quản lý nhà nước 1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại hoạt động giám sát 1. Khái niệm, đặc điểm Tùy theo cách thức và nội dung nghiên cứu, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm giám sát. Theo định nghĩa tại Từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội 1988, do Hoàng Phê chủ biên thì giám sát là "Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không?[55,tr.

Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 1998 do Nguyễn Như Ý chủ biên lại định nghĩa: “Giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”. Từ điển Luật học lại cho rằng: “Giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động, thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh”. Luật Giám sát của Quốc hội và HĐND ngày 20/11/2015 Điều 2, khoản 1 quy định: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. 10 Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng theo nghĩa chung nhất có thể hiểu: Giám sát là việc (hoạt động) của một chủ thể có thẩm quyền nhằm theo dõi, xem xét và kiểm tra đối với một đối tượng nào đó khi thực hiện một công việc cụ thể trên cơ sở những quy ước giữa các bên, để từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với những hành vi sai lệch của đối tượng giám sát, nhằm đạt được những mục đích, hiệu quả đã xác định, bảo đảm cho các quy định được thực hiện đúng và đầy đủ.

Từ khái niệm trên, giám sát có những đặc điểm sau đây: - Giám sát tức là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định đánh giá về một việc đã thực hiện đúng hay sai với những điều đã quy định. - Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định và luôn gắn với đối tượng cụ thể (giám sát ai và giám sát việc gì?). - Giám sát được tiến hành trên cơ sở các quy định cụ thể của cấp thẩm quyền đang còn hiệu lực thi hành. - Giám sát là hoạt động chủ động, có mục đích được xác định trước của chủ thể thực hiện hoạt động giám sát và được thực hiện thường xuyên theo chương trình, kế hoạch đã định.

Đối với hoạt động QLNN, tham chiếu các văn bản, tài liệu hiện hành thì hoạt động QLNN được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động có tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chủ thể QLNN là các cơ quan, cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền lực công. Đối tượng của QLNN là tất cả các tổ chức, cá nhân sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.

Như vậy, theo nghĩa này thì QLNN có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc 11 phòng, an ninh. Mục tiêu của QLNN là nhằm phục vụ Nhân dân, đảm bảo duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Theo nghĩa hẹp hơn, QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, sử dụng pháp luật để điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt mục tiêu, nhiệm vụ QLNN. Theo cách hiểu này thì hoạt động QLNN cũng chính là hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Trong khuôn khổ cho phép, học viên chọn cách tiếp cận giám sát QLNN tại cấp huyện theo nghĩa hẹp. Phân loại giám sát hoạt động quản lý nhà nước Theo quy định của pháp luật (Hiến pháp, các đạo luật có liên quan), hoạt động giám sát đối với quản lý hành chính nhà nước bao gồm các loại sau: Một là, hoạt động giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Đó là hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND (còn gọi là giám sát mang tính quyền lực) các cấp do Luật Giám sát của Quốc Hội và HĐND quy định; Hai là, hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, bao gồm hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên (là hoạt động giám sát không mang tính quyền lực), hoạt động giám sát này do Luật Mặt trận và Luật Công đoàn điều chỉnh; - Giám sát thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân thông qua việc thực hiện thẩm quyền tài phán của Tòa hành chính đối với quyết định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan hành chính hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành và thực hiện; - Giám sát của các cơ quan thông tấn báo chí và hoạt động giám sát của cử tri và của cá nhân công dân theo quy định của Luật báo chí. 12 Trong các chủ thể có thẩm quyền giám sát nêu trên đối với hoạt động QLNN thì mỗi chủ thể đều có những vai trò, vị trí và chức năng riêng, được pháp luật quy định cụ thể.

Vị trí, vai trò, chức năng của các chủ thể giám sát đối với hoạt động quản lý nhà nước 1. Vị trí, vai trò, chức năng của Quốc hội và Hội đồng nhân dân a. Vị trí, vai trò và chức năng của Quốc hội: Tại Điều 69, Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Khoản 2-3 Luật Giám sát của Quốc hội và HĐND 2015 quy định:“Chủ thể giám sát bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân”. “Giám sát tối cao là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giám sát tối cao được thực hiện tại kỳ họp”. Như vậy, Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nên chỉ có Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện vọng của Nhân dân thành luật và bắt buộc mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội phải tuân thủ.

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân bởi vì Quốc hội là cơ quan nhà nước do cử tri cả nước bầu ra bằng nguyên tắc phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín nên Quốc hội có nhiệm vụ phục vụ lợi ích chung của 13 Nhân dân và dân tộc, nói lên tiếng nói của Nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân cả nước. Với vị trí, vai trò quan trọng như trên, Quốc hội có các chức năng sau: - Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp; - Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. - Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao (Điều 4 Luật giám sát của Quốc hội và HĐND). Vị trí, vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân: Hiến pháp năm 2013 quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên".

Và tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 6, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: "Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên". Theo quy định trên, HĐND được tổ chức ở các cấp chính quyền địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã). Trong đó, mỗi cấp HĐND có một vị trí, vai trò quan trọng khác nhau. HĐND cấp tỉnh là cầu nối giữa trung ương và địa phương; HĐND là cầu nối giữa các cấp chính quyền địa phương trong việc thực thi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước tại địa phương và là nơi trực tiếp quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố và giữ vững về quốc phòng, an ninh trên địa bàn địa phương.

Hội đồng nhân dân thực hiện các chức năng cơ bản như: ra Nghị quyết để quyết định những vấn đề cơ bản của địa phương, chức năng đại diện cho ý 14 chí và quyền lợi của nhân dân địa phương và chức năng giám sát đối với hoạt động QLNN của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Về chức năng giám sát, khoản 2 Điều 2 Luật Giám sát của Quốc hội và HĐND cũng quy định: HĐND là chủ thể giám sát hoạt động QLNN ở địa phương, khoản 6 cụ thể hóa hoạt động giám sát của HĐND: “Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân”. Như vậy, giám sát là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND, có mối quan hệ mật thiết với chức năng quyết định của HĐND.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ