CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Những công trình khoa học trong nước có liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình khoa học về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Kết quả nghiên cứu được trình bày tại cuốn sách chuyên khảo “Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong thời kỳ mới” [40] đã đưa ra khái niệm và phân loại trẻ em làm trái pháp luật là một dạng của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; đã đánh giá thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đó là những những trẻ em dễ có nguy cơ vi phạm pháp luật như trẻ em lang thang, cơ nhỡ, trẻ em nghiện ma túy cũng như đánh giá thực trạng trẻ em VPPL…; điều kiện hoàn cảnh, công tác giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Nghiên cứu các mô hình chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt Nam, tuy nhiên đề tài đã không nghiên cứu và không đưa ra mô hình chăm sóc, giáo dục trẻ em VPPL. Đề tài cũng làm rõ kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, trong đó đáng chú ý là kinh nghiệm của Trung Quốc trong vấn đề xử lý, 15 quản lý, giáo dục trẻ em VPPL, kết quả nghiên cứu cho thấy phần nhiều trẻ em làm trái pháp luật tại Trung Quốc được giáo dục trong hệ thống TGD. Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng đã đưa ra các phương pháp tiếp cận và giải quyết những vấn đề đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thể hiện ở một số định hướng là: Phòng ngừa là chính; gắn mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội; gắn phát triển nguồn nhân lực với công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, coi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một bộ phận của phát triển nguồn nhân lực; xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; nâng cao vai trò quản lý của các cấp chính quyền, nhất là cấp cơ sở, trong việc chỉ đạo, xác định mục tiêu, kế hoạch, bố trí nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho cộng đồng, các cấp, các ngành thực hiện mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; thực hiện bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại gia đình và cộng đồng là chính. Đây là những định hướng có giá trị tham khảo rất cao cho luận án trong việc đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với các TGD.
Trên cơ sở những định hướng như trên, đề tài đã xây dựng các mục tiêu và các giải pháp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó liên quan đến Luận án đáng chú ý là giải pháp “Tăng cường pháp chế và các biện pháp đặc biệt”, đó là tăng cường hiệu lực của các luật đã ban hành; có quy định trách nhiệm gánh chịu của cha, mẹ đối với trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em nghiện ma túy…: Cha, mẹ chịu XPHC hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi của con mình, hoặc nghỉ việc ở nhà để dạy con… Tuy nhiên đây chỉ là những quan điểm mang tính chất kiến nghị, gợi ý, còn để triển khai trong thực tiễn thì còn nhiều vấn đề phải bàn, nghiên cứu do các giải pháp trên chỉ mang tính chất giải quyết chính sách 16 xã hội, tham chiếu với các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành thì còn nhiều điểm chưa phù hợp. Mặc dù đề tài không đi sâu nghiên cứu các giải pháp quản lý, giáo dục trẻ em VPPL nhưng cũng đã đưa ra bức tranh thực tiễn tổng thể về mô hình bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở nước ta, đây chính là hệ thống phòng ngừa trẻ em VPPL quan trọng ở nước ta hiện nay. Bài viết chuyên đề “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em” [13], khảo sát thực tế ở Australia, Thuỵ Điển, Hồng Kông cho thấy việc hình thành hệ thống bảo vệ trẻ em liên quan rất nhiều đến các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành. Trong việc xây dựng hệ thống luật pháp chính sách liên quan đến phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em, Luật pháp không chỉ quy định quyền của trẻ em, trách nhiệm của các cơ quan tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện mà còn quy định rất cụ thể về các biện pháp thúc đẩy thực hiện quyền được bảo vệ, quyền sinh tồn của trẻ em.
Luật pháp cũng xác định địa vị pháp lí, trách nhiệm và quyền hạn của nhân viên công tác xã hội rất rõ ràng, mọi vấn đề liên quan đến trẻ em đều phải có tiếng nói của cán bộ CTXH. Trong các trường hợp tách con ra khỏi cha mẹ, người chăm sóc hoặc xử lí trẻ em VPPL, tiếng nói của nhân viên CTXH thường giữ vai trò quyết định. Tương tự như vậy trong hệ thống luật pháp, chính sách về trẻ em hay quyền trẻ em các quốc gia này đều quy định cụ thể về việc hình thành và trách nhiệm của các Trung tâm CTXH với việc bảo vệ chăm sóc trẻ em, nhất là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và nhóm trẻ em có nguy cơ bị tổn hại; quy định về các hình thức chăm sóc thay thế, chính sách trợ giúp các gia đình, cá nhân nhận chăm sóc thay thế, quy trình nhận chăm sóc thay thế, trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc thực hiện các quyền của trẻ em…Những kinh nghiệm trên cần được nghiên cứu để vận dụng phù hợp vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam. Một nội dung khác cũng được hệ thống luật 17 pháp, chính sách quy định rất cụ thể đó là tư pháp thân thiện với trẻ em, ví dụ như khi trẻ em VPPL thì áp dụng các hình thức điều tra, xét hỏi, xử lí tại toà án như thế nào để không gây tổn hại cho trẻ em hay trong trường hợp trẻ em là nạn nhân của các hành vi bạo lực, xâm hại.
Một số nước có phòng điều tra xét hỏi riêng, toà án gia đình và trẻ em riêng để chuyên điều tra, xét hỏi và phán quyết đối với trẻ em phạm tội hoặc trẻ em là nạn nhân của các hành vi xâm hại, bạo lực. Những công trình khoa học liên quan đến quản lý, giáo dục học sinh trường giáo dưỡng - Luận án Tiến sĩ “Nguồn gốc xã hội của việc VPPL ở NCTN hiện nay” (nghiên cứu trường hợp NCTN VPPL tại ba TGD số 1, số 2 và số 4 thuộc BCA) [41]. Luận án đã nghiên cứu với số mẫu là 300 em từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi VPPL và buộc phải đưa vào TGD, tìm hiểu ảnh hưởng của gia đình, nhà trường và cộng đồng (nơi cư trú) tới hành vi VPPL ở NCTN. Tác giả đã khảo sát, đánh giá về thực trạng VPPL của NCTN trong đó đã làm rõ về tình trạng VPPL của NCTN và đặc điểm xã hội của NCTN VPPL.
Trên cơ sở kết quả điều tra xã hội học, tác giả đã phân tích, đánh giá chính xác tác động của các nhân tố xã hội (gia đình, nhà trường và cộng đồng) đến hành vi VPPL của NCTN. Luận án cũng đã có 02 khuyến nghị nhằm hạn chế nguyên nhân dẫn đến hành vi VPPL của NCTN. Khuyến nghị thứ nhất về “Hoàn thiện và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội hệ thống pháp luật”, đối với hoạt động lập pháp, tác giả đã kiến nghị bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo các quyền và phúc lợi cho NCTN, phòng ngừa các hành vi đối xử tàn nhẫn, lạm dụng, bóc lột và sử dụng NCTN vào các hoạt động VPPL; về mặt hành pháp, tác giả đề nghị thành lập, mở rộng các trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề cho NCTN nói chung, NCTN có nguy cơ và NCTN đã có hành vi VPPL, tăng cường vai trò QLNN trong việc giải quyết 18 tình trạng trẻ em lang thang, tạo công ăn việc làm…; đối với hoạt động tư pháp, tác giả kiến nghị cần hoàn thiện kiến thức về chăm sóc giáo dục trẻ em đối với cán bộ thi hành pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử để xử lý nghiêm các hành vi VPPL của trẻ em để làm gương cho những người khác. Khuyến nghị thứ 2 về “Nâng cao hơn nữa vai trò chăm sóc giáo dục NCTN”, tác giả đã đề cập đến trách nhiệm của 03 yếu tố xã hội được nghiên cứu trong Luận án ảnh hưởng đến hành vi VPPL của NCTN là gia đình, nhà trường và cộng đồng, trong đó đề cập đến việc kết hợp cả 03 yếu tố trên như là một điều kiện tiên quyết để phát hiện, xóa bỏ nguyên nhân dẫn đến hành vi VPPL của NCTN.
Những khuyến nghị này góp phần gợi mở những giải pháp trong luận án liên quan đến đối tượng đưa vào TGD, quản lý, giáo dục, dạy nghề cho HS TGD và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các TGD. - Luận án Tiến sĩ “Vận dụng lý luận của A. Makarenko vào công tác giáo dục tại các TGD” [29]. Luận án đã nghiên cứu lý luận của A.
Makarenko về 03 góc độ là chủ nghĩa nhân đạo, giáo dục tập thể, giáo dục lao động; tổ chức khảo sát sự tiếp cận lý luận giáo dục của A. Makarenko trong các TGD cho thấy việc nghiên cứu, áp dụng lý luận giáo dục của A. Makarenko vào công tác giáo dục tại các TGD đã được Đảng, Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm và được thể chế hóa thành Quyết định số 217/TTg-NC ngày 18/12/1967, làm cơ sở pháp lý để BCA tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng. Các TGD vận dụng lý luận lý luận giáo dục của Makarenko thể hiện ở những biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục gồm: Xây dựng tổ chức và cơ chế hoạt động tự quản của HS TGD; biện pháp kết hợp đúng đắn lòng tin và sự tôn trọng đối với HS trong quá trình giáo dục; biện pháp tiến hành giáo dục đồng bộ (dạy văn hóa, vui chơi, thể dục thể thao, văn nghệ); biện pháp chuẩn bị cho học sinh hòa nhập xã hội.