Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số: 62 34 04 03) với đề tài "Quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Lê Đức Cảnh thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Trọng Hách và TS. Trương Quốc Chính, hoàn thành năm 2016.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tình hình người chưa thành niên (NCTN) vi phạm pháp luật (VPPL) tại Việt Nam diễn biến phức tạp, gia tăng các vụ án rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, lan rộng từ thành thị đến nông thôn. Trường giáo dưỡng (TGD) – tiền thân là trường Kim Đồng, sau đó là trường phổ thông công nông nghiệp – là thiết chế chuyên biệt thực hiện biện pháp tư pháp hoặc xử lý hành chính (XLHC) nhằm quản lý, giáo dục NCTN VPPL. Trước đây, hệ thống TGD từng quản lý khoảng 3.000 học sinh. Tuy nhiên, sau khi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực, số lượng học sinh giảm đột ngột, đến năm 2015 chỉ còn khoảng 300 học sinh trên toàn quốc.
Thực tiễn quản lý nhà nước (QLNN) đối với TGD bộc lộ nhiều bất cập: hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ và chưa cụ thể hóa đầy đủ Hiến pháp năm 2013; tổ chức bộ máy chưa kiện toàn, chủ yếu do Bộ Công an (BCA) đảm nhiệm trong khi các bộ ngành liên quan chưa phối hợp hiệu quả; đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng và kiêm nhiệm; cơ sở vật chất, công tác thanh tra, kiểm tra và hợp tác quốc tế chưa được quan tâm đúng mức. Về mặt học thuật, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận TGD dưới góc độ tội phạm học, tâm lý học hoặc khoa học giáo dục; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống dưới góc độ khoa học QLNN và Quản lý công ở cấp độ luận án tiến sĩ.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN đối với các TGD ở Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với các TGD.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ cụ thể):
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước để xác định các luận điểm đã thừa nhận, phương pháp đã sử dụng và khoảng trống tri thức cần tiếp tục giải quyết.
- Hệ thống hóa và phát triển các vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối với các TGD tại Việt Nam.
- Điều tra, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động QLNN đối với các TGD từ năm 2002 đến năm 2016, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Xác định phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện QLNN đối với TGD trong giai đoạn hiện nay.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng là gì? Những yếu tố nào tác động đến quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng ở Việt Nam hiện nay?
- Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng như thế nào? Những kết quả đạt được, những vấn đề nào còn hạn chế, nguyên nhân của những kết quả đạt được và của những hạn chế là gì?
- Giả thuyết nghiên cứu:
- Trường giáo dưỡng có vai trò không thể thiếu ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trường giáo dưỡng chưa đầy đủ và còn nhiều bất cập.
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước chưa được kiện toàn.
- Cơ sở vật chất và hoạt động hợp tác quốc tế chưa được quan tâm đúng mức.
- Hoạt động thanh tra, kiểm tra còn bị buông lỏng.
- Trong giai đoạn hiện nay, nhà nước phải tiếp tục tăng cường quản lý đối với các trường giáo dưỡng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng.
- Phạm vi nội dung: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động QLNN đối với TGD.
- Phạm vi không gian: Tất cả các trường giáo dưỡng trên phạm vi toàn quốc.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng từ năm 2002 (thời điểm Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/UBTVQH10) đến năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp, phân tích các nhóm công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài:
CÁC NHÓM CÔNG TRÌNH TỔNG QUAN
Các nghiên cứu trong nước
- Nhóm công trình về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em: Sách chuyên khảo Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong thời kỳ mới [40] phân loại trẻ em làm trái pháp luật thuộc nhóm hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhấn mạnh kinh nghiệm quản lý của Trung Quốc trong hệ thống TGD; bài viết Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em [13] khảo sát mô hình tại Australia, Thụy Điển, Hồng Kông với vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) và tư pháp thân thiện.
- Nhóm công trình về quản lý, giáo dục học sinh TGD:
- Luận án tiến sĩ Nguồn gốc xã hội của việc VPPL ở NCTN hiện nay [41] khảo sát 300 học sinh từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi tại ba TGD số 1, số 2, số 4 thuộc BCA, phân tích tác động của gia đình, nhà trường, cộng đồng.
- Luận án tiến sĩ Vận dụng lý luận của A. Makarenko vào công tác giáo dục tại các TGD [29] làm rõ việc thể chế hóa lý luận Makarenko qua Quyết định số 217/TTg-NC ngày 18/12/1967.
- Các đề tài cấp cơ sở tại TGD số 4: nghiên cứu học sinh sử dụng ma túy [12] (đánh giá đến 30/10/1997); đặc điểm tâm lý học sinh [65]; giáo dục đạo đức và pháp luật [23]; tổng kết 2 năm thực hiện Pháp lệnh XLVPHC và Nghị định số 33/CP [66].
- Đề tài về tái hòa nhập cộng đồng cho học sinh TGD tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2005–2009 [39].
- Sách chuyên khảo Phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội – Trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội [72] chỉ ra tỷ lệ tái phạm sau khi ra trường là 33,4% và có đến 81% không có việc làm hoặc việc làm không ổn định.
- Nhóm công trình về QLNN trong lĩnh vực an ninh trật tự và tư pháp: Giáo trình QLNN về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội (Học viện Cảnh sát nhân dân, 2010); sách chuyên khảo Bước đầu tìm hiểu QLNN về ANTT [26]; đề tài cấp Bộ QLNN về công tác thi hành án phạt tù (mã số BC-1997-V26-197) [30].
Các nghiên cứu quốc tế
- Lý thuyết giáo dục cải tạo của Liên Xô: Anton Semenovych Makarenko (1888–1939) với thực nghiệm tại Trại Gorky (1920) và trường Cu-ri-a-giơ (Khác Cốp, 1922 với 400 học sinh gồm 300 nam, 100 nữ); các tác phẩm Bài ca sư phạm (1933–1935), Giáo dục lao động, khẳng định nguyên tắc giáo dục trong tập thể, lao động sản xuất và phương pháp "thiết kế cái tốt".
- Hệ thống tư pháp vị thành niên và sức khỏe tâm thần tại Mỹ: Bài báo của Lee A. Underwood, Annie Phillips, Kara von Dresner, Pamela D. Knight (2006) trên International Journal of Behavioral Consultation and Therapy công bố số liệu năm 2003 tại Mỹ có 2,3 triệu trẻ dưới 18 tuổi bị bắt, hơn 130.000 trẻ bị giữ trong các cơ sở cải huấn, và từ 50% đến 75% NCTN VPPL có vấn đề sức khỏe tâm thần có thể chẩn đoán.
- Mô hình thay thế giam giữ: Báo cáo Alternatives to the Secure Detention and Confinement of Juvenile Offenders của James Austin, Kelly Dedel Johnson, Ronald Weitzer (tháng 9/2005) do The Office of Juvenile Justice and Delinquency Prevention phát hành, phân tích giải pháp can thiệp cộng đồng giảm tải cho các cơ sở giam giữ.
Khoảng trống luận án giải quyết
Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, tổng thể ở cấp độ tiến sĩ về QLNN đối với TGD tại Việt Nam theo giác độ quản lý công; chưa xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về chủ thể, đối tượng, nội dung, đặc điểm và các yếu tố tác động của QLNN đối với TGD gắn với bối cảnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp và thực thi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Luận án tích hợp lý thuyết quản lý công, lý thuyết quản lý nhà nước về an ninh trật tự, lý thuyết giáo dục lại và tiếp cận quyền trẻ em:
| Thuật ngữ / Khái niệm |
Định nghĩa và nội dung trích xuất từ luận án |
| Trường giáo dưỡng (TGD) |
Loại hình trường chuyên biệt do BCA quản lý, nơi quản lý, giáo dục tập trung NCTN có hành vi VPPL bị áp dụng biện pháp tư pháp hoặc biện pháp XLHC đưa vào TGD, nhằm giúp họ trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội. |
| Người chưa thành niên (NCTN) |
Người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. |
| Quản lý nhà nước đối với các TGD |
Việc BCA chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan tác động đồng bộ, liên tục đến các TGD nhằm tổ chức quản lý, giáo dục học sinh trở thành những công dân lương thiện, có ích cho xã hội, phòng ngừa tội phạm. |
| Giáo dục lại |
Hoạt động tổ chức giáo dục nhằm uốn nắn, sửa chữa, điều chỉnh, làm thay đổi những quan điểm, tình cảm, thái độ, lối sống, đặc biệt là những thói quen, hành vi không đúng, không tốt đã hình thành ở học sinh [28, tr. 51]. |
Luận án phân tích 3 cấp độ của giáo dục lại:
- Cấp độ nhẹ: Áp dụng với học sinh có sai lệch nhỏ (lười học, nghiện game, không nghe lời); chủ thể thực hiện là gia đình và nhà trường phổ thông.
- Cấp độ trung bình: Biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; chủ thể là chính quyền cơ sở phối hợp gia đình và đoàn thể.
- Cấp độ nặng (giáo dục lại đặc biệt / giáo dục - cải tạo): Áp dụng đối với NCTN VPPL nghiêm trọng được đưa tập trung vào TGD với phương pháp mang tính cưỡng chế kết hợp giáo dục, cảm hóa.
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được tác giả đối chiếu quốc tế để làm rõ tính ưu đãi của pháp luật Việt Nam:
| Quốc gia / Vùng lãnh thổ |
Độ tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự |
| Mexico |
Từ 6 tuổi |
| Bangladesh, Ấn Độ, Myanmar, Nigeria, Pakistan, Nam Phi, Thái Lan |
Từ 7 tuổi |
| Vương quốc Anh (Scotland), Indonesia, Kenya |
Từ 8 tuổi |
| Hoa Kỳ |
13 bang quy định từ 6–12 tuổi; thông luật từ 7–14 tuổi |
| Trung Quốc |
Từ 14–18 tuổi (áp dụng hệ thống tư pháp vị thành niên) |
| Việt Nam |
Từ đủ 14 tuổi (chỉ với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý); từ đủ 16 tuổi chịu trách nhiệm về mọi tội phạm |
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và xử lý NCTN VPPL.
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa các công trình học thuật, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn kiện của Đảng.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Khai thác báo cáo tổng kết giai đoạn 2002–2016 của các TGD, Cục Cảnh sát Trại giam (trước đây) và Tổng cục Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (BCA).
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát thu thập ý kiến về thực trạng và đánh giá tính khả thi của các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với TGD.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, tham khảo ý kiến trực tiếp của các nhà khoa học quản lý, chuyên gia giáo dục lại và cán bộ lãnh đạo, giáo viên thực tế tại các TGD.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này điểm luận hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về bảo vệ trẻ em, công tác giáo dục học sinh TGD và QLNN về an ninh trật tự. Luận án chỉ ra các công trình trước đây đã cung cấp dữ liệu thực tiễn về tâm lý học sinh, mô hình giáo dục Makarenko và thực trạng tái hòa nhập, nhưng chưa có công trình nào giải quyết đồng bộ vấn đề QLNN đối với TGD dưới góc độ quản lý công. Chương 1 xác lập 3 định hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài: xây dựng khung lý luận, đánh giá thực trạng giai đoạn 2002–2016 và đề xuất giải pháp đồng bộ.
Chương 2: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng
Chương 2 xác lập hệ thống khái niệm, luận giải sự cần thiết, xác định nội dung, các yếu tố tác động và bài học kinh nghiệm quốc tế:
- 5 đặc điểm của QLNN đối với TGD:
- Mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao, tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước và tính cưỡng chế bắt buộc thi hành.
- QLNN theo ngành, lĩnh vực chuyên môn do BCA chủ trì, phối hợp với nhiều bộ, ngành (khác với quản lý trường học phổ thông kết hợp giữa ngành và lãnh thổ của UBND).
- Kết hợp chặt chẽ giữa chức năng bảo vệ pháp luật và chức năng xã hội của nhà nước.
- Có tính lịch sử, không phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
- Kết hợp giữa quản lý nhà nước và huy động nguồn lực xã hội.
- Sự cần thiết của QLNN đối với TGD:
- Bảo vệ và chăm sóc NCTN theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; cách ly các em khỏi môi trường tiêu cực có nguy cơ tiếp tục phạm tội; đảm bảo các chế độ sinh hoạt, học tập, y tế từ Điều 14 đến Điều 19 Nghị định số 02/2014/NĐ-CP do Nhà nước chi trả.
- Phòng ngừa tội phạm, bảo đảm an ninh trật tự xã hội thông qua giáo dục lại, hướng nghiệp và dạy nghề.
CƠ CHẾ PHỐI HỢP TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TGD
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng ở Việt Nam
Chương 3 khảo sát lịch sử hình thành TGD và thực trạng học sinh, phân tích hoạt động QLNN từ năm 2002 đến năm 2016:
- Thực trạng học sinh: Học sinh vào trường không theo đầu năm học mà theo thời điểm Tòa án ra quyết định; đa số đã bỏ học ngoài xã hội, trình độ văn hóa thấp và không đồng đều; tâm lý thiếu kỷ luật, sống buông thả, tính cách nóng nảy, bồng bột, đòi hỏi công tác quản lý tập trung và giáo dục cá biệt nghiêm ngặt.
- Đánh giá thực trạng QLNN:
- Về thể chế: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn chồng chéo; quy trình xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào TGD qua TAND theo Luật XLVPHC năm 2012 làm phát sinh vướng mắc thủ tục, khiến số lượng học sinh tại các TGD giảm đột ngột (từ hàng nghìn em xuống còn khoảng 300 em năm 2015).
- Về tổ chức bộ máy và cán bộ: Bộ máy chưa chuyên nghiệp, cán bộ quản lý phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, thiếu đào tạo chuyên sâu về tâm lý học tội phạm vị thành niên và công tác xã hội.
- Về phối hợp liên ngành: Gần như chỉ có lực lượng Công an thực hiện; sự tham gia của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo, chính quyền địa phương còn hình thức.
- Về điều kiện bảo đảm: Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy văn hóa, dạy nghề còn thiếu thốn; thanh tra, kiểm tra và hợp tác quốc tế chưa tương xứng yêu cầu thực tiễn.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với trường giáo dưỡng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 4 xác định định hướng đổi mới và đề xuất hệ thống giải pháp:
- Phương hướng: Bám sát chủ trương cải cách tư pháp, cải cách hành chính; thể chế hóa quyền trẻ em và quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; kết hợp chặt chẽ giữa xử lý nghiêm minh và giáo dục, cảm hóa nhân đạo.
- Các nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Sửa đổi, bổ sung Luật XLVPHC và các văn bản hướng dẫn; đơn giản hóa thủ tục tư pháp đưa NCTN vào TGD; phân định rõ chế tài hình sự và biện pháp hành chính.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và nhân lực: Phân định rõ chức năng các cơ quan; xây dựng tiêu chuẩn ngạch bậc, đào tạo bồi dưỡng chuyên sâu về sư phạm giáo dục lại, tâm lý học và kỹ năng công tác xã hội cho cán bộ, giáo viên TGD.
- Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục: Hoàn thiện chương trình dạy văn hóa, bổ sung giáo dục kỹ năng sống, hướng nghiệp và dạy nghề phù hợp với nhu cầu thị trường lao động.
- Tăng cường cơ sở vật chất và thanh tra, kiểm tra: Bố trí ngân sách thỏa đáng; tăng cường kiểm tra, giám sát liên ngành và mở rộng hợp tác quốc tế học hỏi mô hình tư pháp vị thành niên.
- Nâng cao hiệu quả phối hợp tái hòa nhập cộng đồng: Xây dựng cơ chế liên thông giữa TGD, gia đình, công an cơ sở và chính quyền địa phương nhằm hỗ trợ học sinh có việc làm, xóa bỏ kỳ thị, kéo giảm tỷ lệ tái phạm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Xây dựng khung khái niệm chuyên ngành: Lần đầu tiên đưa ra định nghĩa toàn diện về QLNN đối với TGD dưới góc độ khoa học Quản lý công; xác lập hệ thống 5 đặc điểm của loại hình QLNN này.
- Tiếp cận đa chiều: Kết hợp cách tiếp cận bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em với việc thực thi chế tài pháp luật hình sự và hành chính; làm rõ lý luận về 3 cấp độ giáo dục lại đối với NCTN VPPL.
- Bổ sung lý thuyết quản lý chuyên ngành: Làm phong phú lý thuyết QLNN về an ninh trật tự, QLNN về giáo dục đào tạo và QLNN về thi hành án hình sự tại Việt Nam.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Hệ thống hóa dữ liệu thực trạng 2002–2016: Phân tích toàn diện sự biến động học sinh TGD, đặc biệt là hiện tượng sụt giảm học sinh năm 2015 do tác động từ quy trình thủ tục của Luật XLVPHC năm 2012.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ: Kiến nghị giải pháp sửa đổi thể chế pháp luật, kiện toàn tổ chức bộ máy, chuẩn hóa nhân lực giáo dưỡng và xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành trong giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho học sinh sau khi ra trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát hệ thống TGD trực thuộc Bộ Công an trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2016; chưa thể đánh giá toàn diện tác động dài hạn của các nghị định sửa đổi, bổ sung Luật XLVPHC được ban hành ở các giai đoạn tiếp theo.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên trong mối quan hệ với việc ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào TGD.
- Nghiên cứu mô hình cơ sở cải huấn mở và các biện pháp can thiệp thay thế giam giữ dựa vào cộng đồng cho NCTN VPPL tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Bộ Công an (Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng), Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao trong việc sửa đổi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và tư pháp vị thành niên.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Làm tài liệu tham khảo cho các chương trình đào tạo cử nhân, sau đại học chuyên ngành Quản lý công, Luật học, Tội phạm học tại Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân và các trường đại học luật.
- Cán bộ thực tiễn tại các TGD: Cung cấp cơ sở phương pháp luận về giáo dục lại, giáo dục cá biệt và quản lý tập trung học sinh NCTN.
Câu hỏi thường gặp
1. Sau khi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được áp dụng, số lượng học sinh tại các trường giáo dưỡng biến động như thế nào?
Số lượng học sinh tại các TGD giảm đột ngột từ quy mô quản lý khoảng 3.000 học sinh ở các giai đoạn trước xuống chỉ còn khoảng 300 học sinh trên toàn quốc vào năm 2015. Nguyên nhân do trình tự, thủ tục lập hồ sơ chuyển sang TAND xem xét, quyết định còn phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập trong khâu phối hợp thực hiện giữa các cơ quan chức năng.
2. Khái niệm "Giáo dục lại" trong luận án được phân chia thành những cấp độ nào?
Theo luận án, giáo dục lại được chia thành 3 cấp độ:
- Cấp độ nhẹ: Gia đình và nhà trường giáo dục các em có sai lệch nhỏ (lười học, ham chơi, nghiện game).
- Cấp độ trung bình: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với NCTN bắt đầu có vi phạm pháp luật.
- Cấp độ nặng (giáo dục lại đặc biệt / giáo dục - cải tạo): Đưa tập trung vào trường giáo dưỡng do Bộ Công an quản lý để tiến hành giáo dục cưỡng bức kết hợp cảm hóa.
3. Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự so với các quốc gia được trích dẫn trong luận án ra sao?
Pháp luật Việt Nam có chính sách ưu tiên hơn đối với NCTN khi quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự bắt đầu từ đủ 14 tuổi (và từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý). Trong khi đó, nhiều quốc gia quy định độ tuổi này thấp hơn nhiều: Mexico (6 tuổi); Bangladesh, Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan (7 tuổi); Vương quốc Anh (Scotland), Indonesia (8 tuổi); và một số bang của Mỹ (từ 6 đến 12 tuổi).
4. Quản lý nhà nước đối với trường giáo dưỡng có đặc điểm cơ bản nào khác biệt so với các trường học thông thường?
Quản lý TGD mang tính quyền lực đặc biệt, tính cưỡng chế và mệnh lệnh đơn phương của nhà nước, thực hiện quản lý học sinh tập trung và cách ly với xã hội. Về mặt tổ chức, TGD do BCA quản lý theo ngành, lĩnh vực chuyên môn có sự phối hợp liên ngành, khác với các trường học thông thường chịu sự quản lý song trùng giữa ngành chuyên môn và địa phương (UBND).
5. Tác giả luận án xác định các yếu tố nào dẫn đến tỷ lệ tái phạm của học sinh TGD sau khi ra trường còn cao?
Dẫn theo công trình nghiên cứu [72], luận án ghi nhận tỷ lệ tái phạm sau khi ra trường là 33,4%. Nguyên nhân chủ yếu do hoạt động của trường còn biệt lập, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội sau khi ra trường chưa chặt chẽ, gia đình ghét bỏ, xã hội còn thành kiến kỳ thị, và có đến 81% học sinh sau khi ra trường không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Đức Cảnh là công trình khoa học chuyên sâu về quản lý nhà nước đối với các trường giáo dưỡng tại Việt Nam dưới góc độ quản lý công. Công trình đã hệ thống hóa lý luận về giáo dục lại, xác lập các đặc điểm và nội dung QLNN chuyên biệt đối với NCTN VPPL, đồng thời phân tích thực trạng giai đoạn 2002–2016. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện thể chế pháp luật, kiện toàn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản lý, giáo dục người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam.