Luận văn: Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại Bá Thước, Thanh Hóa

Nghiên cứu luận văn thạc sĩ về chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa. Phân tích hiệu quả và đề xuất giải pháp cải thiện đời sống

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Bá Thước

Giảm nghèo bền vững là mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, đặc biệt tại các vùng khó khăn như huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Chính sách này được triển khai thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, nghị quyết của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Huyện Bá Thước, huyện nghèo vùng núi phía Tây Nam Thanh Hóa, đã áp dụng nhiều giải pháp đồng bộ như hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, trợ giúp pháp lý và đầu tư hạ tầng. Các chính sách ưu tiên tập trung vào hộ nghèo, hộ cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo công bằng tiếp cận nguồn lực. Kết quả bước đầu ghi nhận tốc độ giảm nghèo trung bình 15%/năm, thu nhập hộ gia đình tăng 20%, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống.

1.1. Khung pháp lý chính sách giảm nghèo bền vững

Chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Bá Thước được xây dựng dựa trên khung pháp lý toàn quốc, bao gồm Nghị quyết 80/NQ-CP (2011), Nghị quyết 76/2014/QH13 (2014) và Quyết định 1722/QĐ-TTg (2016). Hệ thống chính sách tập trung vào hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, trợ cấp xã hội, y tế và giáo dục. Địa phương cũng ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể như Quyết định 135/QĐ-TTg (1998) về phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn. Sự phối hợp giữa chính sách trung ương và địa phương đảm bảo nguồn lực đầu tư ưu tiên cho huyện nghèo, nâng cao hiệu quả triển khai.

1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Bá Thước

Huyện Bá Thước có địa hình núi đá, giao thông khó khăn, dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo cao, tập trung ở các xã biên giới và vùng sâu vùng xa. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chăn nuôi quy mô nhỏ, thiếu việc làm ngoài mùa vụ. Mặc dù đã đạt được kết quả giảm nghèo đáng kể, nhưng bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư vẫn tồn tại. Chính quyền địa phương xác định cần đa dạng hóa sinh kế, đầu tư hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế để thúc đẩy phát triển bền vững.

II. Phân tích thực trạng giảm nghèo bền vững huyện Bá Thước

Huyện Bá Thước đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong giảm nghèo, nhưng vẫn đối mặt nhiều thách thức. Tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các xã, nhóm dân cư, đặc biệt là hộ nghèo vùng biên giới và người dân tộc thiểu số. Thu nhập bình quân hộ gia đình tăng nhưng chưa bền vững do phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp manh mún. Hệ thống chính sách hỗ trợ chưa thực sự sát với nhu cầu thực tế, thiếu sự kết nối giữa các chương trình. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, thiên tai thường xuyên ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống. Đánh giá thực trạng là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp phù hợp.

2.1. Kết quả đạt được trong giai đoạn 2016 2020

Từ năm 2016 đến 2020, huyện Bá Thước đã giảm 5% số hộ nghèo, thu nhập hộ gia đình tham gia dự án hỗ trợ sinh kế tăng 20%/năm. Có 15% hộ gia đình thoát nghèo mỗi năm, vượt mục tiêu đề ra. Các chương trình như hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nghề đã tạo việc làm cho hơn 2.000 lao động. Hệ thống trợ giúp pháp lý miễn phí được triển khai tại 23 xã, hỗ trợ 925 lượt người nghèo năm 2019. Chương trình y tế miễn phí đã khám chữa bệnh cho 9.656 lượt người nghèo.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân tồn tại

Mặc dù đạt kết quả nhất định, công tác giảm nghèo vẫn gặp khó khăn do bất cập trong chính sách. Sự phân bổ nguồn lực chưa tập trung vào các xã nghèo nhất, dẫn đến chênh lệch giàu nghèo giữa các địa phương. Người nghèo thiếu vốn sản xuất, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, khả năng tiếp cận tín dụng hạn chế. Biến đổi khí hậu gây ra lũ quét, sạt lở đất phá hủy cơ sở hạ tầng, sản xuất. Thiếu sự phối hợp giữa các ngành, địa phương trong triển khai chính sách cũng là nguyên nhân chính.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững

Để nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Bá Thước, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về sinh kế, giáo dục, y tế, hạ tầng. Đa dạng hóa mô hình sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp như du lịch cộng đồng, chế biến nông sản. Tăng cường đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho hộ nghèo. Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu. Đầu tư hạ tầng giao thông, điện, nước, viễn thông để kết nối vùng sâu vùng xa. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các ngành, địa phương, đảm bảo nguồn lực đầu tư hiệu quả.

3.1. Giải pháp phát triển sinh kế bền vững

Phát triển sinh kế bền vững cần tập trung vào đa dạng hóa sản xuất, nâng cao giá trị nông sản. Khuyến khích hình thành hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị. Hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, thích ứng biến đổi khí hậu. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhất là thanh niên, phụ nữ, gắn với nhu cầu doanh nghiệp. Xây dựng mô hình sinh kế kết hợp nông lâm nghiệp, du lịch cộng đồng. Tăng cường liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp, hợp tác xã để nâng cao hiệu quả sản xuất.

3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để thoát nghèo bền vững. Cần đầu tư giáo dục đào tạo, nâng cao tỷ lệ học sinh đến trường, đặc biệt là con em hộ nghèo, dân tộc thiểu số. Mở rộng chính sách học bổng, miễn giảm học phí cho học sinh nghèo. Đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo. Nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ môi trường, ứng phó thiên tai. Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có trình độ, năng lực triển khai chính sách hiệu quả.

IV. Kết luận và khuyến nghị chính sách giảm nghèo bền vững

Chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Bá Thước đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn cần hoàn thiện để đảm bảo bền vững. Kết luận rút ra từ nghiên cứu cho thấy cần tập trung đầu tư vào sinh kế, giáo dục, hạ tầng, đồng thời nâng cao hiệu quả triển khai chính sách. Khuyến nghị quan trọng là đa dạng hóa nguồn lực, tăng cường phối hợp liên ngành, nâng cao năng lực cán bộ địa phương. Địa phương cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, giám sát chặt chẽ tiến độ triển khai. Việc huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp, tổ chức xã hội cũng rất quan trọng. Chính sách giảm nghèo bền vững không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là sự chung tay của toàn xã hội.

4.1. Đánh giá hiệu quả chính sách giai đoạn 2016 2020

Giai đoạn 2016-2020, huyện Bá Thước đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong giảm nghèo. Tốc độ giảm nghèo trung bình 15%/năm, vượt mục tiêu đề ra. Thu nhập hộ gia đình tăng 20%, tỷ lệ hộ thoát nghèo đạt 15%/năm. Các chương trình hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, trợ giúp pháp lý đã tạo việc làm, cải thiện đời sống người dân. Tuy nhiên, hiệu quả chính sách chưa đồng đều giữa các xã, nhóm dân cư. Nguồn lực đầu tư còn phân tán, thiếu tập trung vào vùng khó khăn nhất.

4.2. Định hướng chính sách giai đoạn 2021 2025

Giai đoạn 2021-2025, huyện Bá Thước cần tập trung vào ba trụ cột: sinh kế bền vững, giáo dục đào tạo, hạ tầng giao thông. Đa dạng hóa sản xuất, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, nâng cao giá trị nông sản. Đầu tư giáo dục, đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường. Hoàn thiện hạ tầng giao thông, điện, nước, viễn thông để kết nối vùng sâu vùng xa. Tăng cường huy động nguồn lực xã hội, nâng cao năng lực cán bộ địa phương. Đảm bảo chính sách tiếp cận công bằng, không bỏ lại ai phía sau.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026
Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện bá thước tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nghèo Có khá nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói, tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà có những quan niệm khác nhau về nghèo đói. Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do (ESCAP) tổ chức tại BangKok, Thái Lan 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng:“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”[46].

Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo và được nhiều nước trên thế giới sử dụng, trong đó có Việt Nam. Theo Liên hợp quốc (UN):“Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.

Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh”[44]. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch), tháng 3/1995 đưa ra định nghĩa về nghèo đói như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la Mỹ (USD) 7 mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại. Tại cuộc họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về phát triển xã hội tháng 6/2020 ở Giơ-ne-vơ (Thụy Sỹ), cộng đồng quốc tế tiếp tục cam kết giảm người nghèo trên thế giới. Hội nghị đa kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy mạnh chiến dịch tấn công vào đói nghèo và kiến nghị các quốc gia cần có những chiến lược toàn diện về xóa đói giảm nghèo.

Tiếp đó đầu tháng 9 năm 2020, hội nghị thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc tại New York (Mỹ) một lần nữa khẳng định chống đói nghèo được coi là một nội dung quan trọng, ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu phát triển của thế giới hiện nay. Định nghĩa mới của Ngân hàng Thế giới đề cập đến nghèo ở khía cạnh rộng hơn không chỉ là thiếu thốn điều kiện về vật chất mà còn là những vấn đề khác như giáo dục, sức khỏe hay khả năng dễ bị tổn thương. Ngoài ra, Liên hiệp quốc cũng phân nghèo thành hai loại: - Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống hằng ngày như ăn, mặc, nhà ở, nước uống, vệ sinh, y tế, giáo dục và sự tham gia vào các quyết định của cộng đồng. - Nghèo tương đối: là những hộ có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn thu nhập bình quân trong cộng đồng, hay không có khả năng đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó.

Như vậy, nghèo là một phạm trù lịch sử, nghèo sẽ còn tồn tại lâu dài trong xã hội, do sự khác biệt về năng lực, thể chất, nguồn gốc thu nhập chính đáng, địa vị xã hội giữa các cá nhân. Vì thế chỉ có thể từng bước giảm nghèo chứ chưa thể tiến tới xóa nghèo. Ở Việt Nam, việc tiếp cận đo lường theo quan niệm này nhằm mục đích đánh giá một cách toàn diện hơn kết quả giảm nghèo của cả nước cũng như từng địa phương, làm cơ sở để ban hành các chính sách giảm nghèo phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cũng như phân bổ ngân sách hợp lý, hiệu quả hơn. 8 Quan niệm của Việt Nam về nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện.

Các khái niệm về nghèo cụ thể như sau: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư vẫn còn thiếu ăn, nhưng không đứt bữa, mặc không đủ ấm, nhà ở chủ yếu là tranh tre, không có hoặc không đủ các điều kiện để phát triển sản xuất, tăng thu nhập và đáp ứng các nhu cầu về học tập, chữa bệnh cũng như các nhu cầu xã hội khác. Ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo: + Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; + Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; + Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng. - Hộ nghèo: là hộ có thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng nhỏ hơn hoặc bằng chuẩn nghèo. - Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng từ trên chuẩn nghèo đến tối đa bằng 130% chuẩn nghèo.

- Người nghèo là người có tên trong sổ chứng nhận hộ nghèo trên sổ theo dõi quản lý hộ nghèo. - Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên, được xác định theo chuẩn nghèo hiện hành. Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang được các tổ chức quốc tế như UNDP, WB sử dụng để giám sát, đo lường sự thay đổi về mức độ tiếp cận nhu cầu cơ bản giữa các quốc gia, thông qua chỉ số nghèo đa chiều. Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá một loạt các yếu tố từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, tài sản và các dịch vụ khác.

Theo UNDP, những chỉ số này cung cấp đầy đủ, sâu sắc hơn bức tranh về sự nghèo khổ so với các về thu nhập giản đơn, biểu lộ cả tính tự nhiên và quy mô của sự nghèo khổ ở các cấp độ khác nhau, từ cấp độ 9 gia đình đến cấp độ khu vực, quốc gia và quốc tế. Cách tiếp cận đa chiều mới hiện đang được xem xét áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều.

Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản. Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013. Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta. Hiện nay Bộ LĐ-TB&XH đang đề xuất xây dựng bộ tiêu chí nghèo đa chiều, đồng thời rà soát cơ chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam.

Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị TƯ lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đã đề ra nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc ít người, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập và một số dịch vụ xã hội cơ bản như khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, nước sạch, thông tin, truyền thông. Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả, bền vững hơn, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản; Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng, nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về đổi 10 mới phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều, trình Chính phủ xem xét vào cuối năm nay [35]. Ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1614/QĐ- TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020.” Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: Sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập.

(2) Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Những quy định chính sách nói trên tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho chương trình giảm nghèo của nước ta trong giai đoạn 2016 - 2020. Chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là mức thu nhập bình quân đầu người được dùng để xác định hộ nghèo. Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ được đo qua thu nhập (hay chi tiêu) thấp hơn mức tối thiểu được chấp nhận, tức thấp hơn chuẩn nghèo.

Tiêu chí để đánh giá nghèo đói của Ngân hàng Thế giới (WB), biện pháp áp dụng thông dụng nhất để đo lường đói nghèo là dựa trên mức thu nhập hoặc mức chi tiêu. Một người được coi là nghèo, nếu mức độ chi tiêu hoặc thu nhập của người đó xuống dưới mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng cho các nhu cầu căn bản. Mức tối thiếu này được gọi là “ngưỡng đói nghèo”. Các yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản thay đổi theo thời gian và xã hội.

Do đó, 11 ngưỡng đói nghèo khác nhau theo thời gian và địa điểm và mỗi quốc gia sử dụng các ngưỡng thích hợp với mức độ phát triển, chuẩn mực và giá trị xã hội của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ