Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề nghèo đói và bảo đảm an sinh xã hội luôn là thách thức mang tính toàn cầu, đồng thời là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tại huyện Bá Thước, một huyện miền núi vùng cao phía Tây Nam tỉnh Thanh Hóa với diện tích tự nhiên 77.522 ha và quy mô dân số 26.703 hộ (tương đương hơn 108.000 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Mường chiếm 57,2% và dân tộc Thái chiếm 31,9%), công tác giảm nghèo đã ghi nhận những chuyển biến tích cực. Giai đoạn 2012 - 2016 chứng kiến tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm nhanh từ 50,16% xuống còn 18,26%. Đến cuối năm 2019, số hộ nghèo toàn huyện tiếp tục giảm xuống còn 3.354 hộ (chiếm tỷ lệ 12,56%), hoàn thành mục tiêu giảm nghèo bình quân trên 3% mỗi năm.

Tuy nhiên, thực tiễn thực thi chính sách tại 21 xã và thị trấn trên địa bàn huyện đang đối mặt với nhiều rào cản mang tính cơ cấu. Tính bền vững trong công tác giảm nghèo chưa thực sự vững chắc khi khoảng cách phát triển giữa các vùng còn lớn. Điển hình trong giai đoạn 2017 - 2019, toàn huyện có 2.379 lượt hộ thoát nghèo nhưng vẫn phát sinh 163 lượt hộ tái nghèo và 912 hộ nghèo mới. Tình trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá thực trạng tổ chức thực thi các chương trình giảm nghèo giai đoạn 2016 - 2019, xác định những điểm nghẽn về cơ chế, nguồn lực và điều kiện tự nhiên - xã hội đặc thù. Từ đó, luận văn xác lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị công, bảo đảm thu nhập của các hộ tham gia dự án sinh kế tăng trên 20%/năm và ít nhất 15% hộ tham gia thoát nghèo bền vững mỗi năm trong giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết thực thi chính sách công (Public Policy Implementation) của Hugh Heclo (1972) và Thomas Dye (1972), kết hợp cùng lý thuyết nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Framework) do UNDP và Ngân hàng Thế giới (WB) phát triển. Khung phân tích xem xét chính sách giảm nghèo bền vững như một hệ thống can thiệp có chủ đích của Nhà nước, kết nối chặt chẽ giữa ý chí chính trị và các công cụ điều hành vi mô tại địa phương.

Hệ thống khái niệm nòng cốt trong luận văn bao gồm:

  • Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối: Đo lường mức độ thiếu hụt các nhu cầu sinh tồn tối thiểu (dưới ngưỡng 2.100 kcal/người/ngày hoặc mức chuẩn 1 USD - 2 USD/ngày theo sức mua tương đương PPP) so với mặt bằng mức sống chung của cộng đồng.
  • Nghèo đa chiều: Phương pháp tiếp cận đo lường nghèo kết hợp tiêu chí thu nhập (mức chuẩn nông thôn 700.000 đồng/người/tháng và thành thị 900.000 đồng/người/tháng theo Quyết định số 1614/QĐ-TTg) với 5 chiều dịch vụ xã hội cơ bản gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh môi trường và tiếp cận thông tin.
  • Chính sách giảm nghèo bền vững: Hệ thống cơ chế, công cụ tài chính công và dịch vụ công nhằm trang bị năng lực nội sinh cho người nghèo, giúp họ tự vươn lên thoát nghèo, triệt tiêu nguy cơ tái nghèo trước các biến cố kinh tế - môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đồng bộ từ các kênh thứ cấp và sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm hệ thống văn bản pháp lý từ Trung ương đến địa phương (Nghị quyết số 76/2014/QH13, Quyết định số 1722/QĐ-TTg, Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP) và các báo cáo thống kê chính thức của UBND huyện Bá Thước, Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện trong giai đoạn 2016 - 2019. Nguồn dữ liệu thực chứng bao quát toàn bộ 21 đơn vị hành chính (20 xã và 1 thị trấn) với dữ liệu quản lý của 3.354 hộ nghèo và 3.297 hộ cận nghèo.

Luận văn kết hợp phương pháp chọn mẫu phân tầng và chọn mẫu có chủ đích để khảo sát sâu tại các địa bàn đại diện: khu vực đô thị (thị trấn Cành Nàng) và các xã vùng cao đặc biệt khó khăn (như Thành Sơn, Lũng Cao, Cổ Lũng, Lương Nội). Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian (2016 - 2019) và phương pháp tổng hợp - khái quát hóa được lựa chọn nhằm đối chiếu giữa mục tiêu chính sách với kết quả đầu ra thực tế. Việc sử dụng phương pháp này giúp lượng hóa chính xác tác động của hơn 360 tỷ đồng vốn tín dụng ưu đãi và các gói hỗ trợ an sinh xã hội tới từng nhóm đối tượng yếu thế. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt từ năm 2019 và hoàn thành đánh giá vào năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ giảm nghèo chung đạt mức ấn tượng nhưng thiếu đồng đều giữa các không gian kinh tế. Số hộ nghèo toàn huyện giảm mạnh từ 5.733 hộ (chiếm 21,7%) năm 2017 xuống còn 3.354 hộ (chiếm 12,56%) năm 2019, tương ứng mức giảm 41,5% quy mô hộ nghèo sau 3 năm. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rất sâu sắc: khu vực đô thị (thị trấn Cành Nàng) chỉ còn 10 hộ nghèo (chiếm 0,3% tổng số hộ nghèo toàn huyện), trong khi khu vực nông thôn chiếm tới 99,7% với 3.344 hộ nghèo. Một số xã vùng sâu như Thành Sơn, Văn Nho có tốc độ giảm nghèo rất chậm, cá biệt có giai đoạn 4 năm chỉ giảm được từ 2 đến 5 hộ nghèo.

Thứ hai, biên độ an toàn kinh tế của nhóm hộ thoát nghèo rất thấp, tỷ lệ tái nghèo và phát sinh nghèo mới còn ở mức báo động. Trong giai đoạn 2017 - 2019, toàn huyện ghi nhận 163 lượt hộ tái nghèo và 912 hộ nghèo mới phát sinh. Đối với phân khúc cận nghèo, có 258 lượt hộ tái cận nghèo và 1.020 hộ rơi vào diện cận nghèo mới. Tỷ trọng hộ cận nghèo vẫn duy trì ở mức cao với 3.297 hộ vào năm 2019 (chiếm 12,3% tổng số hộ toàn huyện).

Thứ ba, chính sách tín dụng ưu đãi và an sinh xã hội trở thành trụ cột nâng đỡ mức sống cơ bản. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện đã triển khai 14 chương trình tín dụng với tổng dư nợ đến ngày 30/11/2019 đạt 360,6 tỷ đồng. Trong đó, dư nợ cho vay hộ nghèo theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP đạt 137,6 tỷ đồng với 3.645 hộ vay; cho vay hộ cận nghèo đạt 82,8 tỷ đồng với 2.870 hộ vay. Về an sinh giáo dục và y tế, huyện đã cấp 88.918 thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách (bao gồm 13.935 người nghèo và 63.935 người dân tộc thiểu số), miễn giảm học phí cho 19.819 lượt học sinh với kinh phí hơn 2 tỷ đồng, và hỗ trợ chi phí học tập cho 11.562 lượt đối tượng với kinh phí trên 5 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Khi tổng hợp các phát hiện trên, dữ liệu có thể được mô hình hóa rõ nét thông qua biểu đồ hình cột thể hiện đà suy giảm của tỷ lệ hộ nghèo (từ 50,16% năm 2012 xuống 12,56% năm 2019) đặt cạnh biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nghèo tập trung tới 99,7% tại nông thôn. Bảng ma trận dòng luân chuyển hộ nghèo cũng cho thấy số hộ nghèo mới và tái nghèo (1.075 hộ) chiếm tỷ trọng đáng kể so với tổng số 2.379 hộ thoát nghèo.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng giảm nghèo chưa bền vững xuất phát từ cấu trúc địa hình Các-xtơ phức tạp với 3/4 diện tích là đồi núi dốc trên 25 độ, thường xuyên chịu tác động của lũ quét, sương muối và biến đổi khí hậu. Trình độ dân trí và tay nghề lao động còn hạn chế khi tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt 40%. Phần lớn người nghèo thiếu tư liệu sản xuất, tập quán canh tác tự cung tự cấp còn nặng nề, quy mô nhân khẩu đông và thiếu kỹ năng quản lý tài chính. Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu trước đây của Lê Quốc Lý (2012) và Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2012) khi chỉ ra rằng các can thiệp hỗ trợ mang tính chất trợ cấp trực tiếp chỉ giải quyết được phần ngọn, nếu không gắn với việc nâng cao năng lực chủ động và tạo sinh kế bản địa (như phát triển du lịch sinh thái Pù Luông đón hơn 5.000 lượt khách quốc tế/năm) thì nguy cơ tái nghèo vẫn hiện hữu khi chính sách hỗ trợ kết thúc.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng thực thi chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Bá Thước, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, tái cấu trúc và mở rộng hạn mức tín dụng chính sách gắn với chuyển giao công nghệ sản xuất. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Bá Thước phối hợp với UBND 21 xã, thị trấn rà soát, nâng tổng mức dư nợ tín dụng ưu đãi lên trên 450 tỷ đồng trong giai đoạn 2021 - 2025. Cần ưu tiên thiết kế các gói vay trung và dài hạn cho nhóm hộ mới thoát nghèo và hộ cận nghèo với lãi suất ưu đãi, nâng tỷ lệ hộ thoát nghèo tiếp cận vốn phát triển sản xuất lên mức tối thiểu 25%/năm nhằm ngăn chặn tín dụng đen.

Thứ hai, đổi mới công tác đào tạo nghề nông thôn gắn liền với chuỗi giá trị du lịch sinh thái cộng đồng. Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện chủ trì, phối hợp Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên mở mới 30 lớp dạy nghề chất lượng cao mỗi năm cho trên 800 học viên. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn huyện từ 40% lên 55% - 60% vào năm 2025, tập trung vào kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông - lâm sản và nghiệp vụ du lịch cộng đồng tại các vùng lõi du lịch như Pù Luông, Bản Đôn, Thác Hiêu.

Thứ ba, hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật và nâng mức tiếp cận 5 chiều dịch vụ xã hội cơ bản. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện phối hợp Phòng Kinh tế - Hạ tầng ưu tiên nguồn lực đầu tư 100% đường giao thông liên thôn, bản tại các xã đặc biệt khó khăn. Duy trì tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 98% cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ dứt điểm 100% nhà tạm dột nát phát sinh mới, đảm bảo 95% hộ dân nông thôn được tiếp cận nước hợp vệ sinh vào năm 2024.

Thứ tư, tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức và mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp lý lưu động. Phòng Tư pháp huyện phối hợp với Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa tổ chức định kỳ tối thiểu 15 buổi trợ giúp pháp lý miễn phí mỗi năm tại các cụm xã vùng cao, phục vụ trên 1.500 lượt người dân nghèo. Đẩy mạnh tuyên truyền nhằm xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách của Nhà nước, khơi dậy tinh thần tự lực vươn lên làm giàu chính đáng của đồng bào các dân tộc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Luận văn cung cấp luận cứ thực chứng và bài học kinh nghiệm trong việc điều phối, lồng ghép các nguồn vốn chính sách (như Chương trình 30a, Chương trình 135) tại địa bàn miền núi khó khăn, giúp tối ưu hóa công tác phân bổ ngân sách an sinh xã hội hằng năm.

  2. Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Kinh tế phát triển: Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp đánh giá thực thi chính sách giảm nghèo đa chiều cấp huyện, cung cấp hệ thống dữ liệu chi tiết tại 21 đơn vị hành chính của huyện Bá Thước giai đoạn 2016 - 2019.

  3. Lãnh đạo chính quyền địa phương và cán bộ chuyên trách giảm nghèo cấp xã, thị trấn: Cung cấp khung hướng dẫn thực tế để rà soát, phân loại chính xác hộ nghèo/cận nghèo theo tiêu chí mới, từ đó xây dựng các mô hình sinh kế giảm nghèo phù hợp với điều kiện tự nhiên từng bản, làng.

  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tổ chức phát triển quốc tế: Nắm bắt chính xác bức tranh thiếu hụt dịch vụ xã hội của hơn 63.935 đồng bào dân tộc thiểu số và 13.935 người nghèo tại Thanh Hóa, làm cơ sở xây dựng các dự án viện trợ sinh kế, nước sạch và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Bá Thước đã biến động như thế nào trong giai đoạn 2016 - 2019? Tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm mạnh từ 21,7% (tương ứng 5.733 hộ) năm 2017 xuống còn 12,56% (3.354 hộ) vào cuối năm 2019, đạt tốc độ giảm bình quân trên 3%/năm. Đây là thành quả vượt bậc từ việc triển khai đồng bộ các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững.

Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tái nghèo tại địa phương? Tình trạng 163 hộ tái nghèo và 912 hộ nghèo phát sinh mới bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với 3/4 diện tích là núi dốc, thiên tai dịch bệnh khó lường, quy mô gia đình đông con, và tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 40% khiến thu nhập thiếu tính ổn định.

Chính sách tín dụng ưu đãi đã đóng góp nguồn lực cụ thể ra sao? Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện đã giải ngân 14 chương trình với tổng dư nợ đạt 360,6 tỷ đồng tính đến cuối năm 2019. Nguồn vốn này đã trợ lực trực tiếp cho 3.645 hộ nghèo và 2.870 hộ cận nghèo có vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, chăn nuôi và tạo việc làm ổn định.

Vì sao huyện Bá Thước cần chuyển đổi sang đo lường nghèo đa chiều? Phương pháp tiếp cận đa chiều giúp địa phương không chỉ đánh giá nghèo theo mức thu nhập (700.000 - 900.000 đồng/tháng) mà còn đo lường chính xác mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản, từ đó phân bổ ngân sách hỗ trợ y tế, giáo dục và nhà ở trúng đối tượng.

Mô hình kinh tế nào tạo đột phá giảm nghèo bền vững cho Bá Thước? Mô hình kết hợp nông - lâm nghiệp chất lượng cao với du lịch sinh thái cộng đồng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (đón hơn 5.000 lượt khách/năm) được chứng minh giúp các hộ tham gia tăng thu nhập trên 20%/năm và tạo đòn bẩy thoát nghèo vững chắc nhất.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết quản lý công về thực thi chính sách giảm nghèo bền vững theo chuẩn nghèo đa chiều hiện đại.
  • Đánh giá thực chứng kết quả giảm nghèo ấn tượng tại huyện Bá Thước với tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 21,7% năm 2017 xuống 12,56% năm 2019 trên địa bàn 21 xã, thị trấn.
  • Nhận diện trực diện những điểm nghẽn về 163 lượt hộ tái nghèo, 912 hộ nghèo mới và sự chênh lệch sâu sắc khi 99,7% người nghèo tập trung ở khu vực nông thôn miền núi.
  • Khẳng định vai trò trụ cột của chính sách an sinh với hơn 360,6 tỷ đồng vốn tín dụng ưu đãi và 88.918 thẻ bảo hiểm y tế được cấp phát cho các đối tượng yếu thế.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, khả thi gắn liền với đào tạo nghề du lịch sinh thái và củng cố hạ tầng kỹ thuật giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn 2030.

Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và chính quyền cơ sở trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững. Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để ứng dụng vào công tác quản lý và nghiên cứu thực tiễn.