Luận văn phân tích chấn thương phim Burning và Drive My Car của Murakami

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu lý luận lịch sử và phê bình điện ảnh truyền hình diễn ngôn về chấn thương trong phim cải biên từ, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Lý luận, Lịch sử Điện ảnh, Truyền hình

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2023

126
58
3

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái quát về đề tài nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ "Diễn ngôn về chấn thương trong phim cải biên từ tác phẩm của Haruki Murakami (Trường hợp Burning (2018) của Lee Chang Dong và Drive My Car (2021) của Ryusuke Hamaguchi)" của Phạm Thị Hiền Trang, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2023, nghiên cứu về diễn ngôn chấn thương trong hai bộ phim Burning và Drive My Car, cả hai đều được chuyển thể từ truyện ngắn của nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami. Luận văn lựa chọn đề tài này bởi sự phổ biến và thành công của cả hai bộ phim, cũng như tính cấp thiết của vấn đề chấn thương trong xã hội hiện đại. Tác phẩm của Murakami, và theo đó là hai bộ phim chuyển thể, chạm đến những vấn đề bản thể, nỗi cô đơn, và chấn thương của con người. Việc nghiên cứu diễn ngôn chấn thương trong hai bộ phim này không chỉ giúp phân tích biểu hiện của chấn thương và sự thấu cảm con người đương đại mà còn cho thấy góc nhìn của nhà văn và đạo diễn về xã hội và đời sống hiện đại. Luận văn đặt ra câu hỏi về cách thức mà điện ảnh chuyển tải những vấn đề này từ văn học sang màn ảnh, đồng thời thể hiện dấu ấn sáng tạo riêng của các đạo diễn.

II. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận văn bắt đầu bằng việc khảo sát lịch sử nghiên cứu về diễn ngôn, chấn thương và cải biên, từ những khái niệm ban đầu đến các lý thuyết đương đại. Phần này trình bày các quan điểm về diễn ngôn của Ferdinand de Saussure, Mikhail Bakhtin và Michel Foucault, làm nền tảng cho việc phân tích diễn ngôn chấn thương trong phim. Về chấn thương, luận văn điểm qua lịch sử nghiên cứu từ thời Hippocrates và Galen đến các nghiên cứu hiện đại về chấn thương tâm lý, bao gồm cả PTSD. Phần này cũng đề cập đến các nghiên cứu về chấn thương trong văn học và điện ảnh tại Việt Nam. Về cải biên, luận văn tóm tắt quá trình phát triển của lý thuyết cải biên và giới thiệu các nhà nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực này như Linda Williams, Robert Stam và Linda Hutcheon. Việc khảo sát này giúp xây dựng một khung lý thuyết vững chắc cho việc phân tích diễn ngôn chấn thương trong hai bộ phim Burning và Drive My Car.

III. Phân tích diễn ngôn chấn thương trong Burning và Drive My Car

Luận văn đi sâu vào phân tích diễn ngôn chấn thương trong hai bộ phim, tập trung vào các khía cạnh: lý do khởi sinh chấn thương (cái chết, tổn thương thơ ấu, cô đơn, mất niềm tin); các dạng thức chấn thương (cá nhân và cộng đồng); và diễn ngôn nghệ thuật như một phương thức chữa lành (viết, kể chuyện, diễn xuất). Trong Burning, luận văn phân tích chấn thương của nhân vật Jong-su xuất phát từ sự cô đơn, bất an về tương lai và những bí ẩn xung quanh cô gái Hae-mi. Còn trong Drive My Car, chấn thương của Kafuku được thể hiện qua nỗi đau mất vợ và quá trình đối diện với những bí mật của quá khứ. Luận văn cũng phân tích cách thức mà hai đạo diễn sử dụng ngôn ngữ điện ảnh để thể hiện chấn thương, bao gồm việc sử dụng không gian, thời gian, dàn cảnh, cú máy, dựng phim và âm thanh. Ví dụ, trong Burning, không gian ngoại vi vùng ven, thời gian nhập nhoạng, dàn cảnh có chiều sâu được sử dụng để biểu đạt cảm xúc chủ quan của nhân vật. Trong Drive My Car, dàn cảnh đan xen giữa cuộc đời và sân khấu kịch, cùng với việc sử dụng nhiều trung cận cảnh, khắc họa thế giới nội tâm của nhân vật.

IV. Đánh giá và ứng dụng thực tiễn

Luận văn kết luận bằng việc đánh giá giá trị của hai bộ phim trong việc phản ánh chấn thương của con người đương đại và khẳng định sự thành công của các đạo diễn trong việc chuyển tải tư tưởng của Murakami lên màn ảnh. Nghiên cứu này góp phần vào việc hiểu rõ hơn về diễn ngôn chấn thương trong điện ảnh và văn học, đồng thời cung cấp một góc nhìn mới về tác phẩm của Haruki Murakami. Về ứng dụng thực tiễn, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về điện ảnh, văn học và chấn thương. Nghiên cứu này cũng có thể hữu ích cho việc giảng dạy và phân tích phim, giúp người xem hiểu sâu hơn về những thông điệp và ý nghĩa mà các đạo diễn muốn truyền tải. Hơn nữa, việc phân tích chấn thương trong phim cũng có thể góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề sức khỏe tinh thần và tầm quan trọng của việc chữa lành chấn thương.

05/12/2024
Luận văn thạc sĩ lý luận lịch sử và phê bình điện ảnh truyền hình diễn ngôn về chấn thương trong phim cải biên từ tác phẩm của haruki murakami trường hợp burning 2018 của lee chang dong và drive my car 2021 của ryusuke hamaguchi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Chấn thương, khủng hoảng hiện sinh và hành trình truy tìm bản ngã trong phim cải biên Burning va Drive my car Chương 3: Diễn ngôn chấn thương qua phong cách của đạo diễn phim Burning va Drive my car 16 CHUONG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VA THUC TIEN 1. Co sé li luan 1. Khái lược về diễn ngôn Khái niệm “diễn ngôn” - “discourse” trong tiếng Anh thường được sử dụng dé chỉ một loại hình giao tiếp hoặc phương thức trình bày thông tin. Diễn ngôn có thể được hiểu như một quá trình truyền đạt ý kiến, thông tin hoặc ý nghĩa thông qua ngôn ngữ, mà có thể xảy ra trong các tình huống giao tiếp khác nhau như hội thoại, bài giảng, bài diễn thuyết,.

Diễn ngôn cũng có thể ám chỉ vào một hệ thống các quy tắc, nguyên tắc và cách thức truyền đạt ý nghĩa thông qua ngôn ngữ, bao gồm cả cấu trúc ngữ pháp, từ ngữ và văn phong. Nó còn liên quan đến việc phân tích cách mà người ta sử dụng ngôn ngữ dé xây dựng các ý tưởng, quan điểm và quyền lực xã hội. Diễn ngôn có thể phan ánh và xác định các giá tri, quan điểm và các thực thé xã hội. Tuy nhiên, ở mỗi một lĩnh vực, khái niệm nay lại bao gồm các yếu tố nội hàm khác nhau, thậm chí là trong cùng một lĩnh vực cũng có nhiều định nghĩa về diễn ngôn.

Trong cuốn Các li thuyết diễn ngôn hiện đại: Phân tích da ngành (2006, Ekaterenburg), một công trình tong hợp nhất về lí thuyết diễn ngôn của nhiều học giả nổi tiếng Bi, Hà Lan, Úc và Nga, theo số liệu tạm tính đến nay đã có đến 22 định nghĩa về diễn ngôn. Nhưng trong dé tài nghiên cứu nay, chúng tôi chỉ đề cập tới ba nhân vật tiêu biểu với ba hệ tư tưởng, quan điểm lớn hình thành nên ba trung tâm lý thuyết, khuynh hướng nghiên cứu về diễn ngôn. Trước nhất, với hướng tiếp cận của ngôn ngữ học do F. Saussure làm nền tảng xuất phát, dién ngôn như là cấu trúc của ngôn ngữ - lời nói, là một đối tượng mới của ngôn ngữ học, là chất liệu dé tìm ra cấu trúc của ngôn ngữ.

Hướng tiếp cận của ngôn ngữ hoc do Ferdinand de Saussure đề xuất là một trong những nên tang quan trọng trong lĩnh vực ngôn ngữ học hiện đại. Theo Saussure, ngôn ngữ là một hệ thống các dấu hiệu ngôn ngữ, và nó được xây dựng dựa trên hai thành phần chính: ngôn ngữ và diễn ngôn. Ngôn ngữ (langue) là một hệ thống các quy tắc, nguyên tắc và quyền lực ngôn ngữ chung của một cộng đồng ngôn ngữ. Nó là một tập hợp các yếu tô trừu tượng như âm thanh (âm học), hình ảnh (hình học), và ý 17 nghĩa (nghĩa học) mà người ta sử dụng để tạo ra các đơn vị ngôn ngữ như từ, ngữ cảnh, và câu.

Ngôn ngữ tồn tại bên trong tâm trí của người sử dụng và tồn tại độc lập với bất kỳ cá nhân cụ thể nào. Trong khi đó, diễn ngôn (parole) là việc sử dụng ngôn ngữ cụ thé trong hoạt động giao tiếp hàng ngày. Nó là việc thực hiện ngôn ngữ trong thực tế, bằng cách sử dụng các đơn vị ngôn ngữ dé truyền tải ý nghĩa và tương tác với người khác. Diễn ngôn phụ thuộc vào ngôn ngữ, nhưng nó có thé thay đôi và biến đổi theo hoàn cảnh và tình huống giao tiếp cụ thé.

Quan điểm của Saussure về diễn ngôn như là cấu trúc của ngôn ngữ nhắn mạnh răng ngôn ngữ không chỉ là một tập hợp các từ và ngữ cảnh đơn lẻ, mà là một hệ thống phức tạp của các yếu tổ tương tác. Ông cho răng ý nghĩa của một từ không phải là đo nó tồn tại độc lập, mà là do mối quan hệ tương đối với các yếu tố khác trong ngôn ngữ. Vì vậy, diễn ngôn được hiểu là việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ dé tạo ra ý nghĩa và thể hiện ý nghĩa trong quá trình giao tiếp. Hướng tiếp cận của Saussure đã có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực khác nhau của ngôn ngữ học và nhiều lĩnh vực nghiên cứu liên quan khác, bao gồm cả ngôn ngữ học áp dụng và ngôn ngữ học so sánh.

Ở hướng tiếp cận phong cách hoc, Bakhtin coi dién ngôn như là lời nói - tư tưởng hệ [19]. Trong tác pham Van dé các thể loại lời nói của Mikhail Bakhtin, ông nghiên cứu sâu về các thé loại lời nói và vai trò của chúng trong diễn ngôn và tương tác xã hội. Ông cho rằng các thể loại lời nói không chỉ đơn thuần là các hình thức ngôn ngữ mà còn phản ánh và tạo ra các mô hình xã hội và văn hóa khác nhau. Bakhtin định nghĩa các thể loại lời nói là các khung giới hạn xã hội và văn hóa, trong đó người ta sử dụng ngôn ngữ dé tương tác và truyền đạt ý nghĩa.

Mỗi thé loại lời nói có các quy tắc, giá trị, mục đích và ngữ cảnh riêng, và chúng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cách sử dụng ngôn ngữ và hiểu biết của người sử dụng ngôn ngữ. Ông nhắn mạnh hai khái niệm quan trọng trong việc nghiên cứu các thé loại lời nói là "lời nói môn đăng hộ đối" (monologic speech) va "lời nói đa giọng" (polyphonic speech). Lời nói môn đăng hộ đối là loại lời nói mà chỉ có một giọng điệu, một quan điểm và một quyền lực duy nhất. Đây thường là lời nói của các quyên lực xã hội, như chính phủ, giáo dục, truyền thông chính thống.

Trong khi đó, lời nói đa giọng là loại lời nói có sự tương tac và va chạm giữa các quan diém, 18 giọng điệu và quyền lực khác nhau. Nó thể hiện sự đa chiều, đa âm và thê hiện sự đa dạng của ý kiến và giá trị trong xã hội. Ngoài ra, ông cũng nghiên cứu sự biến đổi và tương tác giữa các thé loại lời nói. Ông cho răng các thé loại lời nói không tồn tại độc lập mà luôn ảnh hưởng lẫn nhau và tạo ra sự đa dạng trong diễn ngôn.

Các thê loại lời nói có thé chuyên đổi và mở rộng dé phù hợp với các tình huống và mục đích giao tiếp cụ thể. Tuy "Vấn đề các thể loại lời nói" của Bakhtin được viết vào những năm 1930 và không được công bố rộng rãi cho đến sau khi ông qua đời, nhưng nó đã có sự ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực như văn học, ngôn ngữ học, xã hội học và nghiên cứu văn hóa. Quan điểm của Bakhtin về các thê loại lời nói đã giúp mở rộng va làm giàu hiểu biết của chúng ta về diễn ngôn và tương tác xã hội qua ngôn ngữ. Theo Sara Mills, dién ngôn trong tư tưởng của Foucault không chỉ đơn thuần là việc truyền tải thông tin ma còn là một công cu quyền lực và kiểm soát xã hội.

Diễn ngôn là một hệ thống ngôn ngữ và các quy tắc liên quan xung quanh việc sử dụng ngôn ngữ và tạo ra ý nghĩa. Các quy tắc này không chỉ xác định cách ngôn ngữ được sử dụng, mà còn xác định các giá trị, quyền lực và mối quan hệ xã hội. Bà tập trung vào khái niệm diễn ngôn hình thành (discourse formation) của Foucault, đó là quá trình xã hội hóa và tạo hình diễn ngôn. Cô nhấn mạnh rằng diễn ngôn không chỉ đơn thuần là sản phẩm của quyền lực, mà nó còn tương tác và tạo ra quyền lực.

Diễn ngôn hình thành bao gồm cả việc xác định những quy tắc và nguyên tắc của diễn ngôn và việc kiểm soát, hình thành và thay đổi các biểu đạt ngôn ngữ và ý nghĩa. Vì diễn ngôn trong tư tưởng Foucault quan tâm tới những quy tắc va cau trúc tạo nên những nhận định, lúc này dién ngôn như là công cụ để kiến tao tri thức và thực hành quyền lực, vừa là hệ quả và là vật cản của quyền lực [25]. Lúc này diễn ngôn không chỉ tồn tại trong các văn bản và tuyên bố chính thức mà còn hiện diện trong các hoạt động xã hội hàng ngày. Foucault cũng đặc biệt quan tâm tới điều kiện hình thành diễn ngôn với vai trò của tác giả.

Trong bài viết Thé nào là tác giả? Foucault đã đề cao sự tồn tại của tác giả luôn gắn với một chức năng nhất định, có vai trò như một thê thống nhất và là cội nguồn cho những ý nghĩa của diễn ngôn thể hiện sự mạch lạc, nhất quán trong giao tiếp. 19 Thực tế, các tư tưởng về diễn ngôn được nhắc ở trên đều đã đưa ra những nhận định và phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau, giúp chúng tôi có cái nhìn đa chiều hơn về lí thuyết này. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy tư tưởng của Foucault là phù hop dé áp dụng nghiên cứu đề tài diễn ngôn về chấn thương trong phim của Lee Chang Dong và Ryusuke Hamaguchi, coi dién ngôn như một văn bản tạo nghĩa, nhóm những văn bản có hiệu lực nói chung nhằm kiến tạo tri thức về chan thương. Khái lược về chắn thương Chấn thương (trauma) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp.

Trong tiếng Hy Lap cổ, từ "trauma" (tpadpa) nghĩa là "vết thương" hoặc "tốn thương". Từ này sau đó được sử dụng trong y học để chỉ các tổn thương về co thé, đặc biệt là những ton thương nghiêm trong gây ra bởi sự va cham, tai nạn hoặc tac động vật ly mạnh. Qua thời gian, thuật ngữ "chan thương" đã mở rộng ra dé ám chỉ không chỉ những tôn thương về cơ thé mà còn những tốn thương tâm lý và tinh thần. Trong ngữ cảnh này, "chấn thương" thường được sử dụng để mô tả những trạng thái tâm lý đau đớn, căng thắng và khó khăn mà một người có thể trải qua sau một sự kiện bị kịch, như tai nạn, thảm họa hay kinh nghiệm chiến tranh.

Thuật ngữ "chấn thương" trong y học và tâm lý học ngày nay không chỉ đề cập đến hệ thống cơ thể mà còn đến tác động va ảnh hưởng đến tinh thần và tâm tri của con người. Nó được sử dung dé mô tả những hậu quả tâm lý và tình cảm từ một sự kiện đau đớn và căng thăng. Định nghĩa này tương đồng với quan điểm của các nhà thần kinh học, tâm thần học cuối thé kỉ XIX. Theo Freud, các sự kiện chan thương từ quá khứ có thé gây ra những tac động mạnh mẽ đến tâm lý của chúng ta [17].

Ông cho rằng một số trạng thái chấn thương có thể làm cho những trạng thái xấu hơn trong tâm trí của người bị ảnh hưởng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Luận văn thạc sĩ lý luận lịch sử và phê bình điện ảnh truyền hình diễn ngôn về chấn thương trong phim cải biên từ tác phẩm của Haruki Murakami trường hợp Burning (2018) của Lee Chang Dong và Drive My Car (2021) của Ryusuke Hamaguchi" của tác giả Phạm Thị Hiền Trang, dưới sự hướng dẫn của TS. Trịnh Văn Định, tập trung vào việc phân tích diễn ngôn về chấn thương trong các tác phẩm điện ảnh cải biên từ văn học của Haruki Murakami. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà những chấn thương cá nhân và xã hội được thể hiện qua điện ảnh mà còn mở ra những khía cạnh mới trong việc hiểu biết về tâm lý nhân vật cũng như bối cảnh văn hóa của Nhật Bản.

Để mở rộng thêm kiến thức về những chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết như "Luận văn thạc sĩ làn sóng hallyu và ảnh hưởng của hallyu đến thế hệ trẻ genz việt nam trong thập niên thứ hai của thể kỷ xxi", trong đó phân tích ảnh hưởng văn hóa của Hallyu đến giới trẻ Việt Nam, hay "Luận văn thạc sĩ văn học diễn ngôn nữ quyền trong sáng tác của Shin Kyung Sook trường hợp cô gái viết nỗi cô đơn hãy chăm sóc mẹ", phản ánh những khía cạnh về diễn ngôn nữ quyền trong văn học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các chủ đề văn hóa và tâm lý trong tác phẩm nghệ thuật.