Chương 1. Giới thuyết về diễn ngôn nữ quyền va sáng tác của Shin Kyung Sook. Diễn ngôn nữ quyền của trong sáng tác của Shin Kyung Sook từ góc nhìn chủ thể nữ. Diễn ngôn nữ quyên trong sáng tác của Shin Kyung Sook từ góc nhìn trần thuật học.
GIỚI THUYET VE DIỄN NGÔN NU QUYEN VA SÁNG TÁC CỦA SHIN KYUNG SOOK Lý thuyết diễn ngôn đang trở thành một trong những khuynh hướng, phương pháp nghiên cứu nôi bật trong các ngành khoa học xã hội, và đặc biệt bùng nỗ trong những năm gần đây. Diễn ngôn học là một lĩnh vực nghiên cứu mang tính liên ngành, có mối liên hệ mật thiết với các bộ môn khác như ngôn ngữ học, kí hiệu học cũng như tạo nên mối liên kết đặc biệt với các thành tự của văn hoá học, sử học, xã hội học, tâm lý học,. Đây cũng trở thành cơ sở lý thuyết cho phương pháp tiếp cận, phân tích và phương pháp đọc văn hoá về diễn ngôn, cụ thé là diễn ngôn nữ quyền trong nghiên cứu và phê bình văn học. Bước đi từ chủ nghĩa nữ quyền, nữ quyền luận đến diễn ngôn và diễn ngôn nữ quyền 1.
Giới thuyết về chủ nghĩa nữ quyền và nữ quyền luận 1. Giới thuyết về chủ nghĩa nữ quyền Cho đến nay, khái niệm “chủ nghĩa nữ quyền” (Feminism) vẫn luôn được quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, điểm chung có thê nhận thấy rằng “chủ nghĩa nữ quyền” xuất hiện như một phong trào xã hội nhằm mục đích cơ bản và quan trọng nhất là đấu tranh cho sự bình đăng giữa nam giới và nữ giới; cũng từ những phong trào xã hội ấy đã trở thành tiền đề góp phần “hình thành nên một chủ thuyết về giải phóng phụ nữ ”140, tr. Cuộc đấu tranh cho bình đăng của người phụ nữ chỉ thực sự trở thành phong trào nữ quyền khi nó bùng phát mạnh mẽ từ chính ý thức mong muốn được giải phóng của người phụ nữ, manh nha vào thời kì Khai Sáng và phát triển sâu rộng từ thé ky XVII dén ngay nay.
Trong chuyén luan Nir quyén 15 luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương dai, tác giả Trần Huyền Sâm chỉ ra rằng làn sóng nữ quyền thứ nhất được khởi phát từ Bản tuyên ngôn về nữ quyên và công dân đề xuất năm 1791 của Marie Gouze (Olympe de Gouges). Trong Bản tuyên ngôn đã đưa ra những dé xuất về quyên lợi chính đáng mà người phụ nữ xứng đáng được hưởng nhưng đã bị tước đoạt bởi chế độ nam quyên. Tuy nhiên, làn sóng nữ quyền lần dau tiên trong lịch sử được ghi nhận tại dấu mốc năm 1848, khi nhà hoạt động xã hội người Mỹ - Elizabeth Cady Stanton, đưa ra hệ thống những đường lối chính trị và văn hoá tư tưởng dé giành lai sự công bằng cho người phụ nữ, trong đó có quyền quan trọng là quyền được tham gia biểu quyết. Ở giai đoạn này nhân vật nữ trong tiểu thuyết xuất hiện chủ yếu trong khuôn khổ của hạt nhân gia đình, tập trung vào quan hệ đối tác hôn nhân — yếu tố giữ vai trò quyết định đến địa vị xã hội của chính họ.
Lan sóng nữ quyền thứ hai lan rộng và kéo dai suốt 3 thập kỷ, từ thập ky 60 đến 90 của thé kỷ XX, khởi phát từ cuộc biéu tình nhằm phản đối cuộc thi Hoa hậu Mỹ vào năm 1968 — 1969. Họ đấu tranh với mong muốn xoá bỏ sự bất công giữa mức lương của nam giới và nữ giới nơi làm việc, được tự do quyết định trong tình dục và sinh sản của người phụ nữ. Những thứ thuộc về bản ngã và bản sắc của giới tính không phải là điều bất biến. Nền tảng tạo nên cơ chế áp bức đối với người phụ nữ chính là nền văn hoá phụ quyền.
Và dé dau tranh với nên văn hoá ấy, phụ nữ cần phải tạo nên một mỹ học nữ giới với đại diện tiêu biểu nhất là dòng văn hoc nữ quyền, nơi mà nhân vật nữ mang theo khao khát được thoát khỏi những rào cản đã trói buộc và kìm hãm họ vào những ngang trái, tầm thường, đầy bất công trong cuộc sống. Bắt đầu từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, làn sóng nữ quyền thứ ba mở ra mang theo tinh thần chủ động, lạc quan mạnh mẽ và quyết liệt hơn bởi 16 vẻ đẹp của nữ tính ngày càng được đề cao. Đến ngày nay, làn sóng nữ quyền đã bước sang cuộc đấu tranh lần thứ tư của lịch sử. Với tâm thế làm chủ, làn sóng này đặc biệt chú ý đến các vấn đề về sự trải nghiệm giữa những người phụ nữ trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Làn sóng này đặc biệt có sự kết hợp với sinh thái học, dẫn đến khái niệm “nữ quyền sinh thái” (Ecofeminism) khi nhìn nhận nữ quyền là một tồn tại tất yếu của tự nhiên. Vì vậy mọi hành động xâm phạm đến nó cũng đồng nghĩa với sự phá vỡ quy luật của tự nhiên. Do đó, đấu tranh cho nữ quyền không chỉ còn là công việc của riêng người phụ nữ. Như vậy, bản chất của mỗi làn sóng nữ quyên chính là sự đấu tranh trên cả bình diện thực tiễn và lý luận nhằm giải quyết các khía cạnh khác nhau trong vấn đề quyền bình đăng của người phụ nữ.
Giới thuyết VỀ nữ quyên luận Những nghiên cứu về nữ quyền đến từ hai nữ nhà nghiên cứu là Virginia Woolf và Simone de Beauvoir đã mở ra những bước phát triển cho một hệ thống lý thuyết xã hội học — văn hoá vào những năm 1960 — 1970. Khác với những người cùng thời của mình, Virginia Woolf tự ý thức rằng bản thân là một người mang theo tâm thức đầy dẫn vặt và đớn đau, hứng khởi nhưng cũng đầy ghê tởm về thứ được gọi là “thời hiện đại” được thể hiện trong những định dạng sáng tác mới, nơi có thể bao chứa trong nó thế giới đầy cuồng loạn cùng những dòng chảy ý thức hỗn độn về cuộc sống đương thời. Tiếng nói nữ quyền của bà được tập hợp lại trong tập tiểu luận Căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929) — tác phẩm được đánh giá là nên tang cho cao trào tư tưởng lớn ở thé kỷ XX — nữ quyền luận. Cuốn sách bao gồm các bài thuyết trình của Virginia Woolf tại Trường Newham College và Trường Girton College — nơi dành cho phụ nữ tại Đại học Cambridge, tập trung vào chủ đề “Phụ nữ và tiểu thuyết”.
Woolf dùng diễn ngôn nhằm giải 17 cấu trúc thế giới biểu tượng những định kiến trong xã hội về người phụ nữ, gợi mở sự gia tăng không gian như một thế giới mới — nơi người phụ nữ có thé khang định tài năng của mình. Lột trần những tiêu cực và bat bình đăng của xã hội đương thời đè nặng lên người phụ nữ. Đặc biệt đối với những các nha văn nữ, Woolf thé hiện mong ước được nâng cao năng lực, vai trò, địa vị của người người nữ. Dé có thé đứng bên cạnh giới trí thức như một người dan ông, họ không chỉ cần phẩm giá, mà quan trọng nhất cần có sự tự do lý trí, quyền được giáo dục và “một căn phòng riêng”.
Không sử dụng những thuật ngữ khô cứng của tâm lý học, bỏ qua những thanh âm bên ngoài, nhưng những trang viết của bà lại có sức mê hoặc khi diễn tả tâm trí của chúng ta dé nhìn thấu chính mình và hiểu rõ người khác. Cũng chính bởi tính chất đặt van dé quan trọng của nó, tiêu luận này đã khơi nguồn cho phong trào nữ quyền vốn đã được khởi phát và đang ngày càng lan rộng, trở thành biểu tượng cho “khúc ngoặt nữ quyền” (feminist turn). Đến Simone de Beauvoir — một nhà văn, nhà triết học hiện sinh, đồng thời là nhà lý thuyết về nữ quyền và tích cực tham gia vào các phong trao chính trị xã hội, bà đã tập trung nghiên cứu về nguồn gốc của van dé bat bình đăng, từ đó tìm kiếm con đường giải phóng cho người phụ nữ. Chuyên luận triết học Giới tinh thứ hai (Le Deuxième Sexe, 1949) lần đầu được công bồ trên tờ Thời mới (Les Temps modernes) — tờ báo do chính bà cùng một sé người khác sáng lập, trở thành một trong những tác phẩm quan trọng của thé kỷ XX.
Dưới tư cách một nhà triết học hiện sinh, Beauvoir luận ban van đề nữ quyên từ lịch sử về phụ nữ trên cơ sở kiến giải và phân tích các quan điểm sinh học, phân tâm học của Freud, và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác - Angghen. Tiếp đó tác gia đi đến trình bay vai trò của người phụ nữ trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, từ đó mở ra tắm bản đồ cho công cuộc giải phóng những kiép người nhỏ bé ay. Theo Beauvoir, khái niệm “nữ tính” 18 (femininity) được hiểu là tập hợp các đặc trưng về xã hội, như sự yếu đuối, thụ động, ngoan hiền, (không xét ở phương diện đặc trưng sinh lý) của người phụ nữ. “Đàn ông cùng một lúc gán cho đàn bà tính cách của tất cả các con cái: li lợm, nóng nảy, xảo tra, đần độn, vô cảm, dâm đãng, tan bạo, tự ti” [3, tr.
Nó không phải là cái vốn có của người phụ nữ, mà là do toàn bộ điều kiện kinh tế - xã hội, là hệ tư tưởng nam giới trói buộc cho phụ nữ, là hậu quả của giáo dục gia đình và là số phận được áp đặt bởi xã hội nơi mà người phụ nữ sống, tạo nên sức chênh lệch của cán cân bình dang giới. Như vậy, những quan niệm thuộc về người phụ nữ vốn không phải là thuộc tính mang tính bản chất, mà nó là hệ quả được kiến tạo từ sự áp chế của văn hoá, giáo dục, tư tưởng nam giới, và ngay từ chính nhận thức hạn chế của người phụ nữ, dẫn đến sự tự nguyện chấp nhận phần yếu thế. Beauvoir đã vén bức màn thành kiến đi theo nhân loại suốt nghìn năm phát triển để nói về người phụ nữ, về một nửa quan trọng của nhân loại trước nay vốn bị hạ thấp vai tro. Câu nói “Người ta không phải sinh ra là phụ nữ: người ta trở thành phụ nữ.
Không phải một số phận sinh học, tâm lý, kinh tế nào xác định gương mặt phụ nữ trong lòng xã hội” [3, tr.153] chính là tuyên ngôn nỗi tiếng nhất của Beauvoir trên lập trường hiện sinh chủ nghĩa về vấn đề nữ quyền trong xã hội.