CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Quan niệm về thơ Thơ trong quan niệm của nhà thơ, có nhiều quan điểm khác nhau tùy góc độ tiếp cận, nhà ngôn ngữ học, nhà phê bình văn học, nhà chính trị gia… mỗi người có quan niệm riêng. Đến nay đã có vô vàn những khái niệm, những định nghĩa về thơ từ nhiều góc độ khác nhau. Thơ là một trong những loại hình kỳ diệu nhất của nghệ thuật, thơ được ví như người bạn đồng hành từ bao đời nay của nhân loại.
Vì vậy, quan tâm đến thơ, niềm khao khát sáng tác ra những tác phẩm hay là mục đích hướng đến của những người yêu thơ. Tùy từng thời đại, từng xu hướng, từng nhà thơ mà hiểu thơ khác nhau, nhiều khi phủ định nhau. Thời cổ đại có khuynh hướng xem thơ thuộc lĩnh vực thần bí. Nhà triết học, mỹ học Hy Lạp Platon (427 - 347 TCN) cho rằng khi làm thơ thi sĩ bị thần linh chi phối.
Nhà thi học Lục Cơ (261 - 303) của Trung Quốc đã lý giải về sự sinh thành của thơ là do sự rung động của Đạo (Mai Ngọc Chừ, 6, tr. Thơ là một hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt cảm xúc, tưởng tượng và ý nghĩa thông qua sắp xếp từ ngữ và âm điệu. Nó có một vai trò quan trọng trong văn hóa của nhiều quốc gia và đã tồn tại từ hàng ngàn năm. Thơ thường phản ánh suy nghĩ, cảm xúc và trải nghiệm cá nhân của người viết.
Nó có thể là một phương tiện để biểu đạt những cảm xúc sâu lắng, tình yêu, niềm vui, nỗi buồn hoặc suy tư của con người. Thơ thường mang tính tưởng tượng cao và sử dụng ngôn ngữ hình ảnh mạnh mẽ để gợi lên những hình ảnh, ý tưởng và tình cảm. Nó có khả năng mở rộng trí tưởng tượng của người đọc và khám phá các khía cạnh sâu sắc của thế giới và cuộc sống. Thơ được xem là một hình thức nghệ thuật đòi hỏi sự khéo léo trong việc sắp xếp từ ngữ, âm điệu và cấu trúc.
Người viết thơ phải biết sử dụng các yếu tố như rõ ràng, tế nhị, nhịp điệu, âm tiết, vần điệu, và sắp xếp không gian trên trang thơ để tạo nên hiệu ứng tác động mạnh mẽ lên người đọc. Thơ 9 thường có tính phiêu dạt, không bị ràng buộc bởi các quy tắc cố định của văn phong thông thường. Nó có thể linh hoạt và đa dạng về hình thức và cách diễn đạt. Thơ có thể được viết bằng các hình thức truyền thống như thiên quan tứ, song thất lục bát, hay bất cứ hình thức không giới hạn nào mà người viết sáng tạo ra.
Trong văn học cổ điển Trung Hoa đã nghiên cứu về thơ và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau. Cụ thể cách đây khoảng 1500 năm, trong cuốn “Văn tâm điêu long”, nhà thơ Lưu Hiệp quan niệm bài thơ bao gồm âm thanh (thanh văn), tình cảm, ý nghĩa (tình văn) và ngôn ngữ (hình văn). Như vậy quan niệm này đề cập đến cấu trúc bên trong của bài thơ. Nhà thơ nổi tiếng Bạch Cư Dị cũng đã đưa ra quan niệm về thơ như sau: Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa.
Cái cảm hoá được lòng người chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh… Như vậy tác giả đã đề cập đến thơ dưới nhiều khía cạnh khác nhau, xét theo bản chất của thơ. Đối với Việt Nam, không có công trình nghiên cứu tách biệt, chuyên sâu về thơ, tuy nhiên cũng có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm thơ. Nhà thơ Tố Hữu thì quan niệm: “Thơ là cái nhuỵ của cuộc sống” - đây là quan niệm hết sức ngắn gọn, nói lên ý nghĩa, giá trị của thơ mang lại cho cuộc sống. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đưa ra định nghĩa: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này” (Phan Ngọc, 28, tr.
Phan Ngọc đã nghiên cứu thơ dưới góc độ cấu trúc, thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần tuý mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, do vậy tính sáng tạo rất cao. Như vậy góc độ tiếp cận của Phan Ngọc có sự khác biệt so với Tố Hữu nhưng sự khác biệt đó ở góc độ tiếp cận khác nhau. Chế Lan Viên thì phát biểu về thơ bằng chính thơ: “Thơ, thơ đong từng 10 ngao như tát bể/ Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời/ Đừng làm những câu thơ khuôn mình theo văn phạm/ Như cây xanh thẳng quá chim không về”. Như vậy ông có định nghĩa về thơ bằng chính những câu thơ.
Nhà nghiên cứu Hữu Đạt cũng đưa ra quan niệm về thơ mang tính hàn lâm, tương đối khoa học như sau khi “Thơ là một thể tài của văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn, súc tích nhất với cách tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất, dưới dạng các hình tượng nghệ thuật” (Hữu Đạt, 10, tr. Quan niệm này đưa ra khá đầy đủ và có tính khái quát hóa cao. Như vậy, xung quanh quan niệm về thơ đã có rất nhiều ý kiến khác nhau, có quan niệm đưa ra phản ánh một khía cạnh nào đó của thơ, có quan niệm xét về cấu trúc và có quan niệm đưa ra khá toàn diện như nhà nghiên cứu Hữu Đạt. Để làm căn cứ nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Đỗ Trung Lai, tác giả đưa ra quan niệm về thơ như sau: Thơ là một chỉnh thể văn bản ngôn từ có sự tương xứng giữa nội dung và hình thức biểu hiện, là một thể loại văn học.
Về nội dung thơ có nhiệm vụ hướng con người đến cái hay, cái đẹp của Chân - Thiện - Mỹ. Thơ mang đặc trưng của tư duy hình tượng với sự tham gia của vần điệu và các quy luật hòa phối ngữ âm trong từng ngôn ngữ đến những giá trị vững bền của đời sống. Về hình thức thơ cần đảm bảo các nguyên tắc mang tính phổ biến như tính sáng tạo, tính thẩm mỹ và công phu. Thơ mang đậm dấu ấn cá nhân của người sáng tác với phong cách đặc trưng riêng.
Ngôn ngữ thơ và đặc trưng của ngôn ngữ thơ, thể thơ 1. Ngôn ngữ thơ Ngôn ngữ thơ là một khái niệm trong nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học, đề cập đến các đặc điểm ngôn ngữ đặc biệt trong thể loại thơ. Nó thể hiện sự tinh tế, đa dạng và sáng tạo trong cách sử dụng ngôn từ và câu chữ để truyền đạt ý nghĩa và tạo hiệu ứng tác động đến độc giả. Ngôn ngữ thơ thường 11 được sử dụng để tạo nên các tác phẩm thơ như: thơ ca, bài thơ và thơ tự do.
Các đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ bao gồm: Tính nhất quán và lưu loát, ngôn ngữ thơ thường sử dụng các phép tu từ, như biến đổi từ ngữ, đồng âm, cách điệu ngữ pháp và nhịp điệu để tạo ra âm điệu, tiết tấu và sự lưu loát đặc trưng. Ngôn ngữ thơ thường sử dụng các phép so sánh, hình ảnh và ý tưởng không trực tiếp để truyền đạt ý nghĩa sâu sắc và gợi cảm xúc. Các từ ngữ thường được chọn một cách cẩn thận để tạo ra hiệu ứng tương phản và hình ảnh mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ thường sử dụng và diễn đạt những ý tưởng sâu sắc, tình cảm và triết lý.
Ngôn ngữ thơ thường tuân theo các quy tắc và hình thức cụ thể, như các đoạn thơ, nhịp điệu, thể thơ và sắp xếp không gian trên trang giấy. Sự tinh tế trong cấu trúc và hình thức tạo nên một khung cảnh cho sự sáng tạo và tương tác giữa ngôn ngữ và ý nghĩa. Ngôn ngữ thơ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự thẩm mỹ và truyền tải cảm xúc, tình cảm, ý nghĩa và ý tưởng sâu sắc. Ngôn ngữ trong thơ chính là “Ngôn ngữ mang tính chất nghệ thuật được dùng trong văn học” (Từ điển văn học, 35, tr.
Ngôn ngữ thơ đòi hỏi vừa phải có hệ thống nhịp điệu và những tiêu chuẩn khắt khe, giàu sức biểu tượng, vừa cô đọng mang tính sáng tạo, ước lệ cao. Mỗi hình ảnh, từ ngữ trong thơ được tác giả chọn lọc cụ thể, công phu, thể hiện sự nghiêm túc trong sáng tác. Ngôn ngữ thơ đều mang những sắc thái chủ quan của tác giả, mỗi nhà thơ có cách thể hiện ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ trong thơ được ví như đứa con tinh thần của tác giả, toàn bộ tâm tư, tình cảm tác giả được gửi vào trong ngôn ngữ thơ, nó biểu hiện tập trung cao độ hình ảnh, màu sắc cuộc sống; cảm xúc của tác giả và ngôn ngữ thơ có tính nhạc điệu, chúng hòa quyện lại với nhau chứ không biệt lập, tách rời tạo nên một chỉnh thể của bức tranh lung linh đa sắc thái.
Để có thể đưa ngôn ngữ vào trong tác phẩm thơ, tác giả phải có sự gọt giũa kỳ công, chắt lọc từng từ, từng chữ một cách chặt chẽ. Chính vì vậy, quá trình sáng tác, chuyển 12 tải ngôn ngữ cuộc sống vào thơ tác giả phải có sự tìm tòi, chắt lọc như việc đãi cát tìm vàng. Có thể nói, một tác phẩm thơ ra đời chính là đứa con tinh thần của tác giả gửi gắm vào đó tâm trạng, tình cảm, sự suy tư… đó là quá trình chắt lọc, gọt giũa, tập trung cao nhất tính mỹ lệ, hàm súc, phong phú của ngôn ngữ. Mỗi bài thơ đều có trật tự hoàn hảo của việc sắp xếp ngôn ngữ.
Một bài thơ để có thể có được chỗ đứng trong nền văn học, trong lòng độc giả thì ngoài nội dung, hình thức thể hiện nhất định phải là sự kết tinh thăng hoa của nghệ thuật ngôn từ. Ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm, tức là ngôn ngữ được sử dụng trong thơ có khả năng gửi tải và truyền đạt cảm xúc một cách hiệu quả. Trong ngôn ngữ thơ, các từ được lựa chọn một cách cẩn thận để kích thích các giác quan và tạo ra ảnh hưởng tâm lý đặc biệt. Các từ có thể có âm điệu, âm thanh, hình ảnh mạnh mẽ và ý nghĩa sâu sắc, giúp truyền đạt cảm xúc một cách mạnh mẽ và chính xác.
Ngôn ngữ thơ thường sử dụng hình ảnh mạnh mẽ và so sánh tạo ra một thế giới tưởng tượng độc đáo, trong đó độc giả có thể trải nghiệm và cảm nhận cảm xúc.