CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.1 Các khái niệm lí luận văn học 1.1 Đối tượng của văn học Trước đây đã từng có quan niệm cho rằng đối tượng của nghệ thuật nói chung và của văn học nói riêng là cái đep, vẻ đẹp. Bác bỏ quan niệm phiến diện đó, nhà dân chủ cách mạng Nga Secnưsepxki nói rằng: “Phạm vi nghệ thuật bao gồm tất cả những gì có trong hiện thực (trong thiên nhiên và cuộc sống) làm con người quan tâm, không phải là cái quan tâm của một học giả, mà là cái quan tâm của con người bình thường. Cái mọi người quan tâm trong đời sống là nội dung của nghệ thuật “ [8; 55]. Đồng ý với nhận định đó của Secnưsepxki, lí luận văn học cũng cho rằng văn học phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội.
Văn học không miêu tả thế giới như những khách thể tự nó, mà tái hiện chúng trong tương quan lí tuởng, khát vọng, tình cảm của con người. Văn học không phản ánh hiện thực dưới dạng những bản chất trừu tượng mà, mà tái hiện nó trong tính toàn vẹn, cảm tính sinh động. Khái niệm trung tâm của đối tượng văn học là các tính cách của con người, con người sống, suy nghĩ, cảm xúc, hành động mang bản chất xã hội, lịch sử. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “khái niệm đối tượng của văn học trước hết khẳng định hiện thực đời sống là cơ sở phản ánh, thể hiện của văn học nghệ thuật.
Thứ hai, nó xác định phương diện hiện thực riêng biệt mà văn học hướng tới chiếm lĩnh, nhào nặn để trở thành nội dung. Thứ ba, khái niệm đối tượng của văn học còn xác định tính chất tổng hợp và toàn vẹn của cuộc sống mà nhà văn tái hiện với tất cả bộ mặt cụ thể, cảm tính, cá biệt. Cuối cùng, đối tượng văn học không phải là một hình tượng nhất thành bất biến mà luôn luôn thay đổi theo sự phát triển của lịch sử và khả năng chiếm lĩnh thẩm mĩ của con người” [6; 126-127]. Như vậy, đối tượng của văn học đó là tất cả những gì tồn tại trong hiện thực khách quan có mối quan hệ chặt chẽ với con người được nghệ sĩ chiếm lĩnh, nhào nặn, tái hiện trong tương quan lí tưởng khát vọng, tình cảm của con người.
Đối tượng văn học luôn thay đổi theo sự phát triển của lịch sử và khả năng chiếm lĩnh thẩm mĩ của con người.2 Thơ trữ tình Trước khi tìm hiểu khái niệm về thơ trữ tình, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm về thơ.Thơ là một thể loại văn học nảy sinh từ rất sớm trong đời sống con người. Là một thể loại nằm trong phương thức trữ tình nhưng bản chất của thơ lại đa dạng, nhiều biến thái và màu sắc phong phú. Với đặc tính hàm súc, khó nắm bắt, khó lí giải cho đến nay thơ vẫn là một thể loại khó tìm ra một định nghĩa chính xác. Dường như có bao nhiêu nhà nghiên cứu, nhà thơ thì có bấy nhiêu đinh nghĩa về thơ.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mãnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [6; 309]. Trên cơ sở khái niệm về thơ, ta đi sâu tìm hiểu khái niệm về thơ trữ tình. Theo Lê Bá Hán, “thơ trữ tình là thuật ngữ dùng chỉ chung cho các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống, được thể hiện một cách trực tiếp. Tính chất cá thể hóa cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa sự thể hiện là nhưng dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình.
Là tiếng hát tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học” [6; 317]. Như vậy thơ trữ tình là lọai thơ mà qua đó nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình bộc lộ tâm trạng chủ quan, thế giới nội tâm cũng như cách cảm, cách nghĩ của họ về cuộc sống, con người và thế giới xung quanh. Thơ trữ tình làm sống dậy thế giới của chủ thể hiện thực khách quan giúp chúng ta đi sâu khám phá thế giới của những cảm xúc, suy tư, nỗi niềm.3 Nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình Thơ trữ tình là nơi nhân vật trữ tình bộc lộ cách cảm, cách nghĩ về con người, cuộc đời; đồng thời cũng là nơi thể hiện tâm trạng chủ quan, thế giới nội tâm của mình vì thế nói đến thơ trữ tình là nói đến nhân vật trữ tình. Lí luận văn học cho rằng: “nhân vật trữ tình là người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm.Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch.
Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ. Qua những trang thơ ta bắt gặp tâm hồn người, tấm lòng người. Đó chính là nhân vật trữ tình” [9; 359]. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “nhân vật trữ tình là hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, là phương thức bộc lộ ý thức tác giả.
Nhân vật trữ tình là con người đồng dạng tác giả- nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình như một con người có đường nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung” [6; 234] Nhân vật trữ tình là nơi gửi gắm tâm sự, nỗi niềm cũng như tư tưởng của tác giả. Tuy nhiên theo chúng tôi nhân vật trữ tình là người thống nhất chứ không đồng nhất với tác giả bởi trong thơ trữ tình nhà thơ xuất hịên như “người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại” (Bê-Lin-Xki). Nếu nhân vật trữ tình là người trực tiếp bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng thì “Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân trực tiếp khơi nguồn tình cảm của tác giả” [9; 359]. Như vây, với tư cách là một hình tượng nghệ thuật, nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng , mục đích mà nhà thơ hướng tới để thể hiện cảm xúc và tư tưởng của mình.
Nhân vật trong thơ trữ tình có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với nhân vật trữ tình.4 Hình tượng nghệ thuật Nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng miêu tả thế giới bằng hình tượng. Đó là kết quả của quá trình tư duy đầy sáng tạo, tách khỏi hoạt động tinh thần của nhà văn để tồn tại như một thực thể văn hóa xã hội. Theo lí luận văn học: “hình tượng văn học là một khách thể tinh thần đặc thù. Gọi là “khách thể” bởi vì đó là thế giới tinh thần đã được khách thể hóa thành một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người sáng tạo hay người thưởng thức nữa.
Cũng không gắn liền với quá trình tâm lí, tinh thần của tác giả như trong quá trình sáng tạo. Gọi nó là “tinh thần” bởi vì tinh thần là một cấp phản ánh đặc biệt của ý thức con người. Cái tinh thần muốn giữ lại thì bao giờ nó cũng thể hiện trong hình thức vật chất, trong nghệ thuật đó chính là các kí hiệu nghệ thuật, chất liệu nghệ thuật” [9; 138- 139]. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “hình tượng nghệ thuật là phương thức chiếm lĩnh tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật.
Hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng, sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật. Bằng chất liệu cụ thể, nó làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng. Hình tượng có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị của nó là ở phương diện tinh thần.Nhưng nói tới hình tượng nghệ thuật người ta thường nói tói hình tượng con người bao gồm cả hình tượng một tập thể với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú” [6; 146- 147]. Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu.
Hình tượng nghệ thuật là hình tượng ngôn từ. Hình tượng nghệ thuật là cái đuợc sáng tạo, được khái quát, không phải là cái sao chép, cái có sẵn mà được tạo nên bởi tư duy hình tượng, bởi ý thức của người sáng tạo, nó thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mĩ của nghệ thụât.2 Các khái niệm thi pháp học 1.1 Không gian nghệ thuật Không gian, thời gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới vật chất trong đó có con người. Con người cũng như vật chất không thể tồn tại ngoài không gian và thời gian. Nghệ thuật không thể thiếu không gian và thời gian bởi con người với tất cả những mối quan hệ của nó là đối tượng đặc trưng của nghệ thuật.
Không gian vật chất là vô cùng quan trọng với con người, nhưng nếu chỉ là không gian ba chiều thì đó chưa được gọi là không gian nghệ thuật. Vậy không gian nghệ thuật là gì?. Theo Trần Đình Sử: “không gian nghệ thuật là mô hình thế giới độc đáo có tính chủ quan và mang ý nghĩa tượng trưng của tác giả. Nó là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống, là mô hình thế giới của tác giả cụ thể, đựơc biểu hiên bằng ngôn ngữ của các biểu tượng không gian” [13; 107- 109].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “ Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chủ thể của nó, có tác dụng mô hình hóa các mối quan hệ của bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự. Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học” [6; 160- 161]. Không gian nghệ thuật là một không gian đặc biệt mà ở đó con người luôn hiện lên với những nét cụ thể, cảm tính, sinh động; đồng thời đó cũng là nơi bôc lộ cảm xúc, thái độ của tác giả đối với sự vật, hiện tượng trong thế giới, đối với con người và thế giới xung quanh.