Khám Phá Không Gian và Căn Tính Giới Trong Truyện Ngắn Alice Munro

Luận văn thạc sĩ văn học phân tích văn học nước ngoài không gian và căn tính giới trong truyện ngắn của alice munro qua trốn chạy và, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Văn Học Nước Ngoài

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2023

104
73
40

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Không gian và Căn tính giới Khái niệm và Lý thuyết

Luận văn tập trung vào mối quan hệ giữa không gian và căn tính giới trong truyện ngắn của Alice Munro. Khái niệm "căn tính" được hiểu là những thuộc tính gốc rễ, thâm căn cố đế trong một cá nhân, chịu sự quy định và tác động của xã hội. Căn tính không bất biến mà luôn thay đổi dựa vào hoàn cảnh quá khứ và hiện tại, cũng như mong muốn hướng tới tương lai. Khái niệm "giới" khác với "giới tính", đề cập đến những yếu tố mang tính xã hội, văn hóa quy định cho nam và nữ. Giới không phải yếu tố tự nhiên mà là sản phẩm của xã hội, được hình thành qua giáo dục, văn hóa.

Luận văn dựa trên lý thuyết của Simone de Beauvoir về giới, cho rằng "người ta không sinh ra là phụ nữ mà trở thành phụ nữ" (Le deuxième sexe). Judith Butler với Rac rối giới cũng được tham khảo, khẳng định giới là một hành vi được lặp lại, được kiến tạo, không phải bản chất cố hữu. Về không gian, luận văn dựa vào lý thuyết của Doreen Massey và Linda McDowell, nhấn mạnh không gian không tĩnh tại mà luôn biến đổi, chịu tác động của các mối quan hệ xã hội. Không gian mang tính giới và đóng vai trò quan trọng trong việc kiến tạo căn tính giới.

Ví dụ, luận văn trích dẫn: "By studying the relations between mothers and daughters...the father provides an escape route to the young girl in her search for an individual self" [53, tr.20], cho thấy mối quan hệ giữa mẹ và con gái, cũng như vai trò của người cha trong việc hình thành căn tính giới của con gái.

II. Định kiến Giới và Phân chia Không gian trong Truyện Ngắn Alice Munro

Luận văn phân tích cách Alice Munro khắc họa định kiến giới và sự phân chia không gian theo căn tính giới trong truyện ngắn. Không gian thị trấn nhỏ trong truyện thường gắn với những định kiến xã hội, áp đặt lên vai trò giới, đặc biệt là phụ nữ. Phụ nữ bị gán với không gian gia đình, chịu trách nhiệm nội trợ, chăm sóc con cái, bị phân biệt đối xử trong công việc, là đối tượng của lời đồn. "All Munro’s women protagonists are not ready to mould themselves into the role of traditional women’s wife" [49, tr.428] cho thấy sự phản kháng của các nhân vật nữ với những khuôn mẫu truyền thống.

Không gian "nhà" được xem là nơi giam hãm, trói buộc phụ nữ với vai trò "thiên thần", người vợ, người mẹ tần tảo, hi sinh. Ngược lại, không gian cá nhân lại là nơi ấp ủ những khát vọng thầm kín, mong muốn thoát khỏi những định kiến, ràng buộc. Luận văn phân tích các hình ảnh biểu tượng như cửa sổ, cánh cửa, con đường… để thể hiện khát khao tự do, vượt ra khỏi không gian giới hạn. Ví dụ, việc người phụ nữ luôn nhìn ra cửa sổ thể hiện sự khao khát một cuộc sống khác, tự do hơn bên ngoài bốn bức tường.

III. Chuyển tiếp Không gian và Tìm kiếm Tự do Căn tính

Chương này phân tích hành trình tìm kiếm tự do căn tính của các nhân vật nữ thông qua việc chuyển tiếp không gian. Hành trình chạy trốn khỏi không gian định hình, khỏi những định kiến, ràng buộc xã hội được thể hiện qua việc các nhân vật rời bỏ thị trấn nhỏ, gia đình, tìm đến một không gian sống mới. Hành trình này cũng là hành trình tìm kiếm bản thân, khám phá những khả năng tiềm ẩn, khẳng định giá trị cá nhân. Luận văn phân tích sự chủ động của người phụ nữ trong tình yêu, hôn nhân, khát khao hạnh phúc cá nhân, sự giải phóng tình dục như một cách thức để thoát khỏi những khuôn mẫu, định kiến.

Việc thay đổi không gian sống cũng đồng nghĩa với việc thay đổi nhận thức, tư duy về bản thân và vai trò giới. Không gian mới mang đến những cơ hội, thử thách mới, giúp nhân vật nữ trưởng thành, tự tin hơn trong việc khẳng định bản thân. Hành động "chạy trốn" không chỉ đơn thuần là sự trốn tránh mà còn là sự tìm kiếm, khám phá, hướng tới một cuộc sống tự do, đúng với mong muốn của bản thân.

IV. Giá trị và Ứng dụng Thực tiễn

Luận văn có giá trị trong việc phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa không gian và căn tính giới trong văn học, đặc biệt là trong truyện ngắn của Alice Munro. Nghiên cứu góp phần làm rõ cách thức nhà văn sử dụng không gian để khắc họa tâm lý, số phận nhân vật, phản ánh những vấn đề xã hội liên quan đến giới. Luận văn cũng có giá trị tham khảo cho các nghiên cứu về văn học nữ quyền, văn học Canada, lý thuyết về không gian và căn tính.

Về ứng dụng thực tiễn, luận văn giúp nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, về quyền tự do, phát triển cá nhân của phụ nữ. Nghiên cứu khuyến khích sự nhìn nhận đa chiều về vai trò của không gian trong đời sống xã hội, cũng như tác động của không gian đến việc hình thành và phát triển căn tính giới. Thông qua việc phân tích các nhân vật trong truyện ngắn, luận văn truyền tải thông điệp về sự dũng cảm, mạnh mẽ của người phụ nữ trong việc vượt qua khó khăn, định kiến, tìm kiếm hạnh phúc và khẳng định bản thân.

05/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÔNG GIAN VÀ CĂN TÍNH GIỚI — NHUNG VAN DE LÝ THUYET 1.1 Căn tính và giới 1.1 Căn tính (Identity) Thuật ngữ “identity” có thé dich sang tiếng Việt với nghĩa là bản sắc, bản dạng, căn tính, căn cước hoặc danh tính. “Căn tính” có nghĩa là những thuộc tính gốc rễ, là những gì đã là thâm căn có dé trong một cá nhân. Ở một khía cạnh nao đó, “căn tính” giống như là một hạt giống “căn cước” được gieo trồng, và bén rễ bên trong cá nhân và cứ thé phát triển cho đến khi trở thành một phan đặc trưng của cá nhân. Trong luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm “căn tính” bởi “căn tính” liên quan đến gốc rễ truyền thống, căn nguyên sâu xa trong tính cách, nhận thức găn liền với địa điểm, không gian.

Theo nhà xã hội hoc Anthony Giddens, căn tính “là phương thức tư duy về bản thân của chúng ta” [5, tr. Căn tính không bắt biến mà luôn thay đôi dựa vào “cái mà chúng ta nghĩ chúng ta đang là như vậy, dưới ánh sáng của những hoàn cảnh trong quá khứ và hiện tại”, “cái mà chúng ta nghĩ rằng chúng ta muốn trở thành” [5, tr. Và đương nhiên, căn tính và công cuộc chuyền động ay phải chiu sự quy định, tác động cua xã hội, nghĩa là căn tính được gan cho mỗi con người. Có thé hiểu căn tính là phương thức tư duy đem lại cho cá nhân/cộng đồng những diện mạo định hình nhất định.

Trong Căn tính và bạo lực — Huyễn tưởng về số mệnh, Amartya Sen cho rằng căn tính là một khái niệm phức tạp và đa chiều, không thé bi giới han bởi một nhận dạng duy nhất hay một nhóm đặc trưng nảo. Ông cho rằng mỗi con người có nhiều căn tính khác nhau, tùy thuộc vào các mối quan hệ, vai trò, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, chính trị và các yếu tố khác. Căn tính của một người có thé thay đồi theo từng bối cảnh và hoàn cảnh cụ thé. Ong cũng phản đối việc gan căn tính với bạo lực hay xung đột, và khuyến khích sự đa dang và tự do của căn tính [28, tr.

Căn tính là một khái niệm quan trọng trong các ngành khoa học xã hội. Thứ nhất, căn tính được hiểu là đặc tính cố định của con nguoi, co thé đồng nhất đặc tính của con người từ quá khứ tới hiện tai và tương lai. Thứ hai, căn tính được hiểu là một thành quả của con người trong quá trình xã hội phát triển với những nguyên tắc, quy định được áp đặt lên họ. Căn tính thường được nhận diện trong mối quan hệ của cá nhân/tập thể với cá nhân hoặc cộng đồng khác.

Điều đó đặt ra những vấn đề, những câu hỏi như mình là ai, mình thuộc về nơi nào, mình có tính cách như thế nào, mình phải làm gì. Căn tính được hình thành từ nhiều yếu tố: địa lý, lịch sử, chủng tộc, văn hóa, tâm lý cộng đồng,. do đó có thé xem căn tính như một thực thé động hơn là một giá trị mang tính bat biến. Căn tinh được hình thành cùng với quá trình lịch sử dài lâu của một cộng đồng, vì vậy, nó trở thành một thứ “vô thức tập thể”, một thứ căn cước giúp cá nhân có thê định hình được bản thân, định vị được nơi mà mình thuộc về.

Đôi khi “căn tính” trở thành một chiến lược mang tính chính tri nhằm đối phó với một thực tế nào đó hoặc xây dựng, củng cô quyền lực của một tập thé.2 Giới (Gender) Giới (gender) là một khái niệm xuất hiện vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX, bắt nguồn từ ngành khoa học giới, sau đó thâm nhập vào nhiều ngành khoa học khác như tâm lý học, xã hội học, văn hóa học,. Vì vậy, thuật ngữ này được hiểu ở mỗi ngành nghiên cứu sẽ có những khác biệt ít nhiều. - “Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh cụ thể. Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ xã hội” [11, tr.25] 10 - “Giới là một thuật ngữ dé chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ” [11, tr.25] “Giới” (gender) và “giới tính (sex) là hai khái niệm không đồng nhất.

“Giới tính” là những đặc điểm sinh học, sinh lý của con người là dé phân biệt giữa nam và nữ. Có thé nói, giới tính là bam sinh và đồng nhất, gắn liền sự khác biệt về giống, về giải phẫu, đó là những đặc điểm sinh lý tự nhiên, mặc định, không thê tránh khỏi. Nếu như giới tính bị định hình bởi các yếu tố sinh học, sinh lý thì giới hàm chứa cả ý thức của chủ thé về chính giới tính của mình. Robert Stoller đã phân biệt hai khái niệm này: “.giới tính gắn với đặc điểm sinh lí, giới là yếu tổ do văn hóa quy định” [50, tr.

Nếu giới tính là một khái niệm khách quan thì giới là một khái niệm chủ quan, thuộc về ý thức. “Giới” không mang ý nghĩa là giới tính, đây là thuật ngữ có sự ảnh hưởng của môi trường văn hóa (do học mà có). Giới là sự khác biệt về vị trí, vị thế, vai trò xã hội của người nam và người nữ trong xã hội với các đặc điểm như thái độ, hành vi ứng xử,. Giới có thê gắn với các quan niệm, các kỳ vọng, các định kiến áp đặt liên quan đến nam và nữ,.

Vai trò xã hội, vị thế giới được nhận thức thông qua quá trình học tập, đánh giá bản thân và khác nhau ở những nền văn hóa, quốc gia, vì vậy giới có thé thay đổi được. Nói đến giới là nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội đã quy định cho người nam và người nữ trong một bối cảnh văn hóa cụ thê. Judith Butler cho rằng “Giới là hiện tượng cách điệu lặp lại của cơ thể, một tập hợp thành hành động tái diễn trong một hệ thống điều hướng hết sức cứng nhắc, đóng băng theo thời gian dé sản xuất sự xuất hiện của bản thé, bề ngoại của một kiểu tồn tại tự nhiên” [9, tr. “Hơn nữa, giới gan kết liên tầng với các phương thức chủng tộc, giai cấp, sắc tộc, giới tính và vùng miền của những tính đồng nhất được cấu thành trong diễn ngôn.

Chính vì thế, chúng ta không thê tách “giới” ra khỏi những quan hệ liên tầng trong chính trị, văn II hóa vốn vẫn luôn sản xuất và duy trì nó” [9, tr. Giới gắn với những đặc tính xã hội, văn hóa và tâm lý được định hình bắt đầu với việc con người là nữ giới hay nam giới. Chính trị, quyền lực và văn hóa đã cấu thành, định hình, giám sát sự xuất hiện và hình thành của giới trong xã hội. Trong xã hội, ở một thời kỳ nhất định, người là nam giới hay nữ giới sẽ phải đối điện với những mong đợi, kỳ vọng, định kiến khác nhau của xã hội về ngoại hình, tính cách, giao tiếp, ứng xử, công việc được cho là phù hợp với giới.

Khái niệm giới được hình thành trong quá trình con người tự nhân thức, ý thức và đề cao tính chất riêng biệt về giới của mình và bình dang giới. Có thé nói, sự khác biệt thiên về thuộc tính tự nhiên sẽ bước đầu được định hình trong tư duy, ý thức. Ý thức thuộc phạm trù nhận thức của con người, nằm trong con người gắn với xã hội và không thể tách rời con người. Ý thức về giới được hình thành trong quá trình tự ý thức con người tự nhìn nhận cá nhân dé nhận thức về giới của mình, từ đó xác lập quyên bình đăng giới.

Do dòng chảy lịch sử cùng tu duy của con người, các nhà nghiên cứu thường sử dụng thuật ngữ “giới” khi tìm hiểu về sự tự ý thức của giới nữ hay trong nghiên cứu về nữ quyền. Nghiên cứu về giới không chú trọng vào sự khác biệt về sinh lý (cái được sinh ra) mà chú trọng vào cái con người “trở thành” như S. de Beauvoir chia sẻ trong công trình Gidi nit. Đó là “căn tính giới” (gender identity), gan với phạm trù “nữ tính” (femininity) va “nam tính” (masculinity).3 Căn tính giới (Gender identity) Căn tính giới (gender identity) là thuật ngữ được sử dụng nhiều và phổ biến trong nhiều lĩnh vực, và có sự phát triển, biến đổi theo thời gian.

Căn tính giới là một yêu tô dự báo quan trọng hơn về hành vi của các cá nhân hơn là giới tính sinh học (sex). Căn tính giới liên quan đến cách cư xử và sự kết hợp được coi là đặc trưng của mỗi nhóm giới tính với những yêu cầu, quy định. Căn tính giới có nhiều dang và có thé là một khái niệm đầy mơ hé và 12 không chắc chắn, bởi vì các thông điệp về giới có thé đến từ một số lượng lớn các nguồn (ví dụ: xã hội, tổ chức, bạn bè, gia đình) thường không đồng đều và mâu thuẫn. Căn tính giới là một “công trình xây dựng” của xã hội dưới phát triển không ngừng, trong đó các chuẩn mực xã hội, cau trúc, con người và bản thân là rất quan trọng.

Những vai trò giới tính bị duy trì trong xã hội là mang tính áp đặt. Việc thực hiện những vai trò này trong những mối quan hệ bất bình đăng về thống trị và phụ thuộc gọi là “chính trị về giới tính”. Hệ thống chế độ nam quyên gia trưởng, độc đoán tồn tại nhiều năm xuyên suốt chiều dài của bối cảnh lịch sử thế giới. Phụ nữ bị đặt trong mối quan hệ, bị nam giới đàn áp, áp bức lâu đời, thân phận của họ bị hạ thấp.

Phụ nữ bị định nghĩa theo giới tính tự nhiên của họ, còn nam giới thì được ca tụng là những trụ cột, gánh vác gia đình. Theo quan niệm trong Kinh thánh, khi Thượng Dé sáng tạo ra thế giới, Người đã tạo ra Adam — một loại động vật hoàn hảo nhất. Dé Adam không buồn bã, cô độc, Thượng Dé đã dùng “cái xương sườn thừa của ông Adam” [1, tr. 321] dé tạo nên con người thứ hai là Eva.

Eva đã thuyết phục Adam cùng ăn “trái cấm”, vì tội lỗi này, Thượng Dé đã trục xuất họ khỏi vườn Địa Đàng, đày họ xuống mặt đất. Thượng Đề đã dành hình phạt lớn nhất cho Eva là hàng tháng sẽ phải mat đi một lượng mau, sẽ phải mang thai, đẻ con,. Trên phương diện triết học, triết gia cổ đại Hy Lap Aristotle cho rằng bản chất đàn bà thấp kém hơn đản ông, triết gia này đã nhìn “phụ nữ là một người đàn ông khiếm khuyết”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Luận văn thạc sĩ văn học nước ngoài không gian và căn tính giới trong truyện ngắn của Alice Munro qua Trốn Chạy và Ghét, Thân, Thương, Yêu, Cưới" của tác giả Nguyễn Hồng Vân, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thu Thủy, trình bày những khía cạnh sâu sắc về không gian và căn tính giới trong tác phẩm của Alice Munro. Qua việc phân tích hai tác phẩm "Trốn Chạy" và "Ghét, Thân, Thương, Yêu, Cưới", luận văn không chỉ khám phá các yếu tố văn hóa và xã hội mà còn làm nổi bật sự phức tạp trong mối quan hệ giữa không gian và bản sắc giới, từ đó mang đến cho độc giả những góc nhìn mới mẻ và sâu sắc về văn học nước ngoài.

Để mở rộng hiểu biết về các khía cạnh giáo dục và phát triển năng lực tư duy, độc giả có thể tham khảo thêm các bài viết sau: Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tư duy và lập luận toán cho học sinh thcsQuản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trường trung học phổ thông Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc. Những tài liệu này không chỉ liên quan đến lĩnh vực giáo dục mà còn mở rộng thêm những phương pháp và chiến lược trong việc phát triển năng lực và quản lý giáo dục, giúp độc giả có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan.