Luận án tiến sĩ: Bảo vệ môi trường tự nhiên ở Việt Nam theo quan điểm Hồ Chí Minh - Hoàng Thị Ngọc Minh, ĐHQG Hà Nội

Khám phá phương pháp bảo vệ môi trường tự nhiên Việt Nam dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh. Phân tích các nguyên tắc phát triển bền vững, trách nhiệm sinh thái và

Chuyên ngành

Hồ Chí Minh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ chính trị học

2020

192
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo vệ môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay

Bảo vệ môi trường tự nhiên ở Việt Nam là vấn đề cấp bách trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức. Ô nhiễm không khí, nước và đất ngày càng nghiêm trọng. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Người khẳng định vai trò chủ động của con người trong việc biến 'Cái Tự nhiên tự nó' thành 'Cái Tự nhiên cho ta'. Tư tưởng này đặt nền tảng cho chính sách bảo vệ môi trường quốc gia. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật. Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi, bổ sung qua các giai đoạn. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai còn nhiều bất cập. Nhận thức của một bộ phận người dân chưa đầy đủ. Tình trạng vi phạm pháp luật về môi trường vẫn xảy ra phức tạp. Doanh nghiệp vì lợi nhuận bỏ qua trách nhiệm bảo vệ. Nông thôn đối mặt với ô nhiễm làng nghề. Thành phố chịu áp lực từ rác thải sinh hoạt. Phát triển bền vững đòi hỏi sự hài hòa giữa kinh tế và môi trường.

1.1. Khái niệm bảo vệ môi trường tự nhiên

Bảo vệ môi trường tự nhiên là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đến hệ sinh thái. Môi trường tự nhiên bao gồm đất, nước, không khí, sinh vật và các yếu tố tự nhiên khác. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, môi trường tự nhiên là vô giá nhưng không vô tận. Con người cần tôn trọng quy luật tự nhiên. Khai thác hợp lý đi đôi với tái tạo là nguyên tắc cốt lõi. Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm nhà nước mà là nghĩa vụ toàn dân. Hoạt động này bao gồm phòng chống ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường. Đồng thời phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường sống.

1.2. Vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bảo vệ môi trường

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường mang giá trị lý luận sâu sắc. Người coi thiên nhiên là nền tảng cho sự sống và phát triển. Hồ Chí Minh nhấn mạnh yếu tố 'nhân hòa' trong quan hệ với tự nhiên. Con người phải chủ động bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Người cho rằng cần quy hoạch khai thác hợp lý, đi đôi với tái tạo môi trường. Tư tưởng này ảnh hưởng trực tiếp đến đường lối phát triển đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và vận dụng vào các nghị quyết. Mục tiêu phát triển bền vững gắn liền với bảo vệ môi trường tự nhiên. Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh còn nguyên ý nghĩa thời đại.

II. Phân tích thực trạng bảo vệ môi trường tự nhiên tại Việt Nam

Thực trạng bảo vệ môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều vấn đề nổi cộm. Ô nhiễm nguồn nước diễn ra tại hầu khắp các lưu vực sông lớn. Sông Hồng, sông Cửu Long đều chịu áp lực từ nước thải công nghiệp và sinh hoạt. Chất lượng không khí tại các đô thị lớn vượt ngưỡng cho phép nhiều lần. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên trong tình trạng báo động. Rừng tự nhiên bị thu hẹp do khai thác và chuyển đổi mục đích sử dụng. Đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng. Nhiều loài động thực vật quý hiếm đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Biến đổi khí hậu加剧 tác động lên hệ sinh thái. Xâm nhập mặn ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng. Làng nghề truyền thống gây ô nhiễm nguồn đất và nước ngầm. Quản lý chất thải rắn còn nhiều bất cập. Xử lý rác thải công nghiệp nguy hại chưa triệt để. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ngày càng gay gắt.

2.1. Các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam biểu hiện trên nhiều phương diện. Nguồn nước mặt bị ô nhiễm bởi nước thải công nghiệp chưa qua xử lý. Nước ngầm tại nhiều vùng nông thôn nhiễm kim loại nặng. Không khí đô thị ô nhiễm bởi khí thải giao thông và công nghiệp. Chất lượng đất suy giảm do sử dụng hóa chất nông nghiệp quá mức. Rác thải nhựa tràn lan ở vùng biển và nông thôn. Ô nhiễm tiếng ồn tại các khu công nghiệp ảnh hưởng sức khỏe dân cư. Các sự cố môi trường xảy ra ngày càng thường xuyên. Formosa Hà Tĩnh là bài học nhãn tiền về thảm họa môi trường công nghiệp. Tình trạng này đe dọa trực tiếp đời sống và sức khỏe nhân dân.

2.2. Nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường tự nhiên

Nguyên nhân suy thoái môi trường tự nhiên xuất phát từ nhiều yếu tố. Nhận thức của một bộ phận người dân và doanh nghiệp còn hạn chế. Tư duy tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá chưa được loại bỏ. Hệ thống pháp luật về môi trường còn chồng chéo, thiếu đồng bộ. Năng lực thực thi pháp luật của cơ quan quản lý còn yếu. Công nghệ sản xuất lạc hậu gây ô nhiễm lớn. Nguồn lực tài chính đầu tư cho bảo vệ môi trường chưa tương xứng. Quy hoạch phát triển thiếu tính bền vững. Khai thác tài nguyên vượt quá khả năng tái tạo. Biến đổi khí hậu加剧 thêm áp lực lên hệ sinh thái tự nhiên.

III. Giải pháp bảo vệ môi trường tự nhiên ở Việt Nam hiện nay

Giải pháp bảo vệ môi trường tự nhiên đòi hỏi tiếp cận tổng thể và đồng bộ. Hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ ưu tiên. Luật Bảo vệ môi trường cần được cập nhật theo thực tiễn. Tăng cường năng lực thực thi pháp luật tại địa phương. Áp dụng công nghệ sạch trong sản xuất công nghiệp. Khuyến khích kinh tế tuần hoàn và sản xuất xanh. Đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung tại đô thị. Xây dựng nhà máy xử lý rác thải hiện đại. Mở rộng diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên. Giáo dục môi trường đưa vào chương trình giáo dục phổ thông. Nâng cao nhận thức cộng đồng qua truyền thông. Xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm mở rộng. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.Ứng phó biến đổi khí hậu phải gắn liền với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Phát triển bền vững là mục tiêu xuyên suốt.

3.1. Hoàn thiện chính sách pháp luật và quản lý nhà nước

Hoàn thiện chính sách pháp luật là giải pháp nền tảng. Cần sửa đổi các quy định chồng chéo về bảo vệ môi trường. Phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý. Tăng nặng hình phạt đối với vi phạm pháp luật môi trường. Áp dụng cơ chế đánh giá tác động môi trường nghiêm ngặt. Xây dựng hệ thống quan trắc môi trường tự động toàn quốc. Nâng cao năng lực cán bộ quản lý môi trường cơ sở. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra định kỳ tại doanh nghiệp. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý môi trường. Công khai thông tin chất lượng môi trường cho người dân. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả.

3.2. Nâng cao nhận thức và xã hội hóa bảo vệ môi trường

Nâng cao nhận thức cộng đồng là giải pháp then chốt. Giáo dục môi trường cần bắt đầu từ bậc tiểu học. Chương trình đào tạo phải gắn lý thuyết với thực hành. Truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong tuyên truyền. Sử dụng mạng xã hội để lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường. Xây dựng mô hình cộng đồng tự quản về môi trường. Khuyến khích phong trào sống xanh trong giới trẻ. Doanh nghiệp cần áp dụng trách nhiệm xã hội. Người tiêu dùng ưu tiên sản phẩm thân thiện môi trường. Tôn vinh các tập thể, cá nhân có đóng góp xuất sắc. Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường cần được nhân rộng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn bảo vệ môi trường tự nhiên

Bảo vệ môi trường tự nhiên ở Việt Nam là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp nền tảng lý luận vững chắc. Người khẳng định con người phải sống hài hòa với thiên nhiên. Khai thác tài nguyên phải gắn liền với bảo vệ và tái tạo. Thực tiễn cho thấy nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong bảo vệ môi trường. Diện tích rừng được phục hồi. Chất lượng môi trường tại một số khu vực cải thiện. Tuy nhiên, thách thức còn rất lớn trước mắt. Ô nhiễm và suy thoái môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả. Biến đổi khí hậu đặt ra yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết. Ứng dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cần được triển khai sâu rộng. Kết hợp truyền thống với hiện đại trong quản lý tài nguyên. Phát triển kinh tế phải bền vững về môi trường. Đầu tư công nghệ xanh là hướng đi tất yếu. Mỗi công dân đều có vai trò trong sự nghiệp bảo vệ môi trường. Tương lai đất nước phụ thuộc vào hành động hôm nay.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn bảo vệ môi trường

Thực tiễn bảo vệ môi trường ở Việt Nam rút ra nhiều bài học quý giá. Thứ nhất, chính sách phải đi đôi với thực thi nghiêm minh. Thứ hai, phát triển kinh tế không được đánh đổi bằng môi trường. Thứ ba, công tác giáo dục nhận thức phải được triển khai liên tục. Thứ tư, vai trò cộng đồng trong giám sát môi trường rất quan trọng. Thứ năm, hợp tác quốc tế giúp tiếp cận công nghệ tiên tiến. Thứ sáu, nguồn lực đầu tư phải được phân bổ hiệu quả. Bài học từ các sự cố môi trường cần được ghi nhớ. Quản lý tài nguyên phải dựa trên cơ sở khoa học. Tầm nhìn dài hạn thay vì tư duy ngắn hạn là yêu cầu cấp thiết.

4.2. Định hướng phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường

Định hướng phát triển bền vững đặt bảo vệ môi trường làm trung tâm. Kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là mô hình chủ đạo. Năng lượng tái tạo dần thay thế nhiên liệu hóa thạch. Nông nghiệp hữu cơ phát triển bền vững tại vùng nông thôn. Du lịch sinh thái khai thác tiềm năng tự nhiên có trách nhiệm. Quy hoạch đô thị phải tính đến không gian xanh. Hạ tầng xanh được ưu tiên đầu tư phát triển. Ứng phó biến đổi khí hậu tích cực tại vùng ven biển. Bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển cộng đồng. Giáo dục thế hệ trẻ ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Bảo vệ môi trường tự nhiên ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến môi trường và bảo vệ môi trường Đề cập đến môi trường sinh thái, có một số bài viết của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm như: “Sự kết hợp giữa các mục tiêu kinh tế và sinh thái trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Triết học, 5 – 1996 [143]; “Khía cạnh triết học – xã hội của vấn đề môi trường sinh thái ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học, 6 – 1998 [145]; “Xây dựng đạo đức sinh thái – một trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên”, Tạp chí Triết học, 6 – 2009 [146]. Thông qua các bài viết, tác giả đã đề cập tới nhiều phương diện khác nhau của vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái. Theo tác giả, thực chất của vấn đề môi trường sinh thái là vấn đề mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên.

Tác giả cho rằng, mục tiêu sinh thái là sự khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi trường sống. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên, tác giả đề cập một cách sâu sắc tới sự tác động tích cực và tiêu cực của quá trình tăng trưởng kinh tế đối với môi trường sinh thái, qua đó khẳng định rằng, để tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp khác nhau như sử dụng cơ chế lợi ích, xây dựng các chính sách xã hội về bảo vệ môi trường, đổi mới công nghệ để khai thác, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái. Tác giả tập trung phân tích phương pháp, hiệu quả, ứng 9 luan van, khoa luan 12 of 66. tai lieu, document13 of 66.

dụng của hoạt động đánh giá tác động môi trường, một trong những công cụ đắc lực trong việc quản lý môi trường tại nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó, tác giả đề cập đến sự phát triển, cũng như những rủi ro của các phương pháp đánh giá sự tác động của môi trường; nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động môi trường. Đồng thời, tác giả phân tích những ví dụ điển hình trong việc ứng dụng hoạt động đánh giá sự tác động của môi trường ở các nước Mỹ, Liên minh Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ La tinh. Đánh giá các quan điểm về bảo vệ môi trường, những chính sách bảo vệ môi trường, và luật bảo vệ môi trường, Jane Holder, Maria Lee (2007) đã viết cuốn sách Environmental Protection, Law and Policy [159] (Dịch là: Bảo vệ môi trường, pháp luật và chính sách).

Các tác giả phân tích cách thức của hoạt động pháp lý được hỗ trợ và hợp pháp hóa bằng các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học hoặc kỹ thuật truyền thống, cũng như bởi các giả định trong lĩnh vực văn hóa hoặc triết học có liên quan. Đồng thời, đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường thông qua một cuộc kiểm tra chặt chẽ về kiểm soát ô nhiễm và sử dụng đất. Vấn đề vi phạm luật bảo vệ môi trường hiện nay đang diễn ra ngày càng phức tạp nên đòi hỏi các biện pháp kiểm soát pháp lý phải chặt chẽ và nhạy bén, có tính thực thi cao được minh họa bằng một số nghiên cứu sâu, bao gồm phân tích chính sách và pháp lý về các vấn đề như các sinh vật biến đổi gen và các dự án năng lượng tái tạo. Đi sâu vào nghiên cứu các chiến lược và giải pháp hỗ trợ tăng trưởng kinh tế lành mạnh, bảo vệ môi trường và tạo ra một thế giới công bằng hơn, đồng thời khái quát những nội dung cơ bản của các chính sách môi trường toàn cầu, cuốn sách Handbook of Globalization and the Environment (Dịch là: Cẩm nang toàn cầu hóa và môi trường) của V.Thai, Dianne Rahm, Jerrell D.

Các tác giả phân tích sự cần thiết phải phát triển 10 luan van, khoa luan 13 of 66. tai lieu, document14 of 66. bền vững quốc tế, nguyên nhân của tình trạng nóng lên toàn cầu, ô nhiễm không khí xuyên biên giới, sa mạc hóa, ô nhiễm môi trường toàn cầu. Đưa ra các nội dung thảo luận về các tổ chức quốc tế nói chung và tổ chức môi trường toàn cầu nói riêng với sự khái quát về vai trò của Liên hiệp quốc trong toàn cầu hóa, mối quan hệ môi trường thương mại, sự xuất hiện của tổ chức phi chính phủ và phân tích tình trạng nhận thức và hành động về bảo vệ môi trường toàn cầu ở quốc tế.

Nhấn mạnh những tác động của nền kinh tế toàn cầu ngày càng ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và xã hội, tác giả đưa ra một số giải pháp trong công tác quản lý môi trường và nêu cao ý thức trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ môi trường hiện nay. Trần Đắc Hiến (2009) với bài viết “Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay – Thực trạng và một số giải pháp khắc phục” [72]. Tác giả cho rằng, hiện nay, ở Việt Nam, một trong những vấn đề gây bức xúc dư luận trong thời gian qua là tình trạng ô nhiễm môi trường. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người như chất thải ở các khu công nghiệp, các làng nghề, các khu đô thị đổ trực tiếp ra môi trường xung quanh.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, tác giả nêu lên một số giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay: Các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cần phải có những điều chỉnh kịp thời gắn với tình hình thực tế theo hướng chú trọng công tác bảo vệ môi trường; công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nhân dân bảo vệ môi trường phải được coi là các giải pháp chủ đạo để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cuốn sách Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái của Vũ Trọng Dung (2009) [48] cho rằng, trong những năm qua, khi bàn về vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường, các nhà khoa học chủ yếu quan tâm đến 11 luan van, khoa luan 14 of 66. tai lieu, document15 of 66. khía cạnh kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, y học, luật pháp v.

còn những yếu tố nhân văn, đặc biệt là các yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc, đạo đức, lối sống chưa được nghiên cứu nhiều, mặc dù đó là những yếu tố rất căn bản và quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, để nhìn nhận một cách toàn diện hơn về vấn đề bảo vệ môi trường sống và đưa ra các giải pháp hữu hiệu hơn nữa, chúng ta cần nhìn nhận từ góc độ trách nhiệm đạo đức của mỗi nước và của cả nhân loại về vấn đề này. Cuốn sách Thực thi luật và chính sách Bảo vệ môi trường tại Việt Nam [84] của nhóm tác giả Nguyễn Đức Khiển, Phạm Văn Đức, Đinh Minh Trí (2010) đã tập trung phân tích thực trạng môi trường và các chính sách pháp luật liên quan đến môi trường làm thay đổi nhận thức và hành động của con người trong quá trình sản xuất, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam. Với nhiều số liệu cụ thể, chi tiết về thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay, tác giả Vũ Văn Bằng (2010) trong cuốn sách Con người và môi trường sống [12] cho rằng, phải xóa bỏ tư tưởng ỷ lại vào sự may rủi trong cuộc sống, đồng thời đối mặt với những “vật chất” vừa nhìn thấy vừa không nhìn thấy của môi trường tự nhiên để tìm ra biện pháp, cách thức, lối sống thích hợp nhất đảm bảo sức khỏe, việc làm, hạnh phúc lâu bền cho con người.

Tác giả đã phân tích và làm nổi bật những giá trị to lớn của môi trường và tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường tự nhiên. Tác giả trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về đạo đức môi trường như: khái niệm đạo đức môi trường, các tiêu chí đánh giá đạo đức môi trường, các chức năng cơ bản của đạo đức môi trường. Đồng thời đã tổng 12 luan van, khoa luan 15 of 66. tai lieu, document16 of 66.

quan về môi trường và ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay; phân tích nhận thức của người dân về đạo đức môi trường; đánh giá thực trạng hành vi đạo đức môi trường ở nước ta. Tác giả đã chỉ ra một thực trạng là ở hầu hết các cơ sở sản xuất, người dân từ thành thị đến nông thôn và miền núi còn có nhiều hành vi mang tính phi đạo đức môi trường - một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường chưa bền vững ở nước ta. Báo cáo tham luận của nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên (2011) tại Đại hội Đại biểu lần thứ XI của Đảng, Công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững [124] đã đánh giá thành tựu đạt được trong công tác bảo vệ môi trường, chỉ ra tồn tại là môi trường đang tiếp tục bị xấu đi, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và đời sống của nhân dân. Qua đó, khẳng định tầm quan trọng của bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có ý nghĩa sống còn, là nhiệm vụ hết sức khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải đổi mới tư duy, đổi mới cách làm và cần có những giải pháp mang tính đột phá.

FiruzDemir Yasamis Istanbul Aydin, University Turkey (2011) có bài viết “Economic instruments of environmental management” (Dịch là: Công cụ kinh tế quản lý môi trường) đăng trong kỷ yếu hội thảo Proceedings of the International Academy of Ecology and Environmental Sciences [155]. Bài viết cho rằng, quản lý môi trường có hai mục tiêu chính, đó là: kiểm soát số lượng, mức độ ô nhiễm và nâng cấp chất lượng môi trường đến một mức độ chấp nhận được. Cho đến nay, chỉ huy và điều khiển công cụ là hai chiến lược khác nhau được sử dụng chủ yếu trong quản lý để thực hiện những mục tiêu trên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ