Luận văn: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Nghiên cứu ứng dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã. Phân tích vai trò, giải pháp phát triển hiệu quả công tác cán bộ địa

Chuyên ngành

Hồ Chí Minh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
123
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: 'Cán bộ là cái gốc của mọi công việc'. Người nhấn mạnh rằng sự thành công hay thất bại của cách mạng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ. Cấp xã, phường, thị trấn là nền tảng của hệ thống hành chính nhà nước, nơi trực tiếp gắn bó với nhân dân và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ bao hàm hai yếu tố cốt lõi: đức và tài. Đức bao gồm trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Tài là năng lực tổ chức, vận động quần chúng và giải quyết công việc hiệu quả. Đảng và Nhà nước luôn xác định công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên. Nghị quyết Trung ương nhiều khóa đã nhấn mạnh yêu cầu trẻ hóa, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở. Nhận thức đúng đắn về tư tưởng Hồ Chí Minh giúp định hướng rõ ràng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ cấp xã trong giai đoạn hiện nay.

1.1. Vị trí và vai trò của cán bộ cấp xã trong hệ thống chính trị

Cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, đóng vai trò cầu nối giữa hệ thống chính trị với nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, 'Cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi'. Cán bộ cấp xã trực tiếp tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối Đảng, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ tập thể. Nơi nào có đội ngũ cán bộ xã năng động, tận tụy thì nơi đó kinh tế xã hội phát triển, đời sống nhân dân ổn định. Vị trí đặc biệt này đòi hỏi cán bộ cấp xã phải có phẩm chất đạo đức vững vàng và năng lực thực tiễn cao.

1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn chất lượng cán bộ cách mạng

Hồ Chí Minh xây dựng hệ thống tiêu chuẩn toàn diện cho cán bộ cách mạng. Về đức, Người yêu cầu 'Trung với nước, hiếu với dân' và thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Người ví bốn đức này như bốn mùa của trời, bốn phương của đất, thiếu một không thành người cán bộ hoàn chỉnh. Về tài, cán bộ phải có năng lực tổ chức, khả năng phân tích tình hoạch định chính sách. Người nhấn mạnh cán bộ phải 'công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân'. Hệ thống tiêu chuẩn này là nền tảng khoa học cho việc xây dựng và đánh giá đội ngũ cán bộ cấp xã hiện nay.

II. Phân tích thực trạng chất lượng cán bộ cấp xã hiện nay

Thực tiễn cho thấy chất lượng cán bộ cấp xã ở nhiều địa phương còn tồn tại không ít hạn chế. Về phẩm chất đạo đức, một bộ phận cán bộ suy thoái tư tưởng chính trị, thiếu gương mẫu, xa rời nhân dân. Tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, thiếu công tâm trong giải quyết công việc vẫn diễn ra ở một số nơi. Về năng lực chuyên môn, nhiều cán bộ cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý hành chính nhà nước. Trình độ lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, kỹ năng quản lý còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ xã ở nhiều vùng nông thôn, miền núi thiếu trầm trọng, không thu hút được người tài. Cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ chưa hợp lý导致许多优秀人才不愿留在基层。Công tác đánh giá cán bộ còn hình thức, thiếu khách quan, chưa gắn kết quả thực thi với trách nhiệm cá nhân. Những bất cập này làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước ở cơ sở, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân và sự phát triển kinh tế xã hội địa phương.

2.1. Hạn chế về phẩm chất đạo đức và lối sống của cán bộ cấp xã

Một bộ phận cán bộ cấp xã chưa quán triệt sâu sắc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị biểu hiện qua việc thiếu niềm tin, dao động trước khó khăn. Lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích cá nhân xuất hiện ở không ít cán bộ. Một số người thiếu gần dân, xa rời quần chúng, quan liêu trong giải quyết thủ tục hành chính. Tham nhũng vặt, nhũng nhiễu dân vẫn là vấn đề nhức nhối. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ phải 'cần, kiệm, liêm, chính' nhưng nhiều người chưa thực sự noi gương phẩm chất cao đẹp đó trong công việc hàng ngày.

2.2. Hạn chế về năng lực chuyên môn và kỹ năng quản lý

Năng lực chuyên môn của cán bộ cấp xã ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu công việc. Trình độ đào tạo chưa đồng đều, nhiều cán bộ thiếu kiến thức pháp luật, kỹ năng hành chính công vụ hiện đại. Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý còn yếu. Kỹ năng giao tiếp, thuyết phục, vận động nhân dân chưa cao. Công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng cán bộ xã chưa được đầu tư đúng mức. Nhiều địa phương gặp khó khăn trong tuyển dụng cán bộ có trình độ đại học về công tác tại xã, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Để nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên cơ sở vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, phải xây dựng nền tảng đạo đức cách mạng cho cán bộ. Giáo dục tư tưởng 'Trung với nước, hiếu với dân' phải trở thành nội dung thường xuyên, liên tục. Cần phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, tạo môi trường rèn luyện thực tiễn tại cơ sở. Thứ hai, đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng, chú trọng nâng cao năng lực thực tiễn, kỹ năng tổ chức quần chúng. Xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với đặc thù công việc cấp xã, tăng cường thực hành thay vì lý thuyết suông. Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ, tạo điều kiện thu hút người tài về xã công tác. Cải cách chế độ lương thưởng, đào tạo thăng tiến cho cán bộ xã. Thứ tư, đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ dựa trên kết quả thực thi và sự hài lòng của nhân dân. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá cụ thể, minh bạch, công khai.

3.1. Xây dựng nền tảng đạo đức cách mạng cho cán bộ cấp xã

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức là gốc của người cán bộ cách mạng. Cần đưa nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vào chương trình đào tạo cán bộ xã một cách hệ thống. Tổ chức học tập chuyên đề về 'Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư'. Phát động phong trào rèn luyện đạo đức trong thực tế công việc. Xây dựng quy tắc ứng xử, đạo đức công vụ cụ thể cho cán bộ cấp xã. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện đạo đức công vụ. Khen thưởng kịp thời cán bộ gương mẫu, xử lý nghiêm cán bộ vi phạm đạo đức, tạo môi trường lành mạnh để cán bộ rèn luyện và trưởng thành.

3.2. Đổi mới đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực thực tiễn

Cần đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo cán bộ cấp xã theo hướng thực tiễn hơn. Xây dựng chương trình đào tạo ngắn hạn, chuyên đề phù hợp với nhu cầu công việc cụ thể tại xã. Tăng cường đào tạo kỹ năng quản lý hành chính, giải quyết khiếu nại tố cáo, ứng dụng công nghệ thông tin. Tổ chức cho cán bộ xã đi học tập kinh nghiệm tại các địa phương tiên tiến. Mở rộng liên kết đào tạo với trường đại học, viện nghiên cứu. Áp dụng phương thức đào tạo trực tuyến, học từ xa để cán bộ vùng sâu vùng xa tiếp cận được kiến thức mới. Khuyến khích cán bộ tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ.

IV. Kết luận và ứng dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác cán bộ cấp xã

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và chất lượng cán bộ là hệ thống luận điểm toàn diện, sâu sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn. Nội dung cốt lõi bao gồm quan điểm cán bộ phải có đủ đức và tài, trong đó đức là gốc, tài là sức mạnh hoàn thành nhiệm vụ. Các phẩm chất 'Trung với nước, hiếu với dân', 'Cần, kiệm, liêm, chính' tạo nên nền tảng đạo đức vững chắc cho người cán bộ cách mạng. Vận dụng tư tưởng này vào công tác cán bộ cấp xã đòi hỏi sự sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá cán bộ xã dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn kết quả thực thi với trách nhiệm cá nhân. Công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ xã phải bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Đảng ủy, chính quyền cấp huyện và tỉnh phải thường xuyên quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện cho cán bộ xã rèn luyện và phát triển. Đây là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ có ý nghĩa lý luận sâu sắc, bổ sung kho tàng lý luận cách mạng về công tác cán bộ. Hệ thống tiêu chuẩn đức tài của Người là kim chỉ nam cho mọi thời đại, không chỉ áp dụng cho cấp xã mà cho toàn bộ hệ thống chính trị. Về thực tiễn, vận dụng tư tưởng này giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền. Thực tiễn đã chứng minh, nơi nào cán bộ thực hiện tốt tư tưởng Hồ Chí Minh thì nơi đó Đảng mạnh, dân tin, xã hội ổn định và phát triển bền vững.

4.2. Định hướng phát triển đội ngũ cán bộ cấp xã trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ cấp xã cần được phát triển toàn diện. Định hướng trọng tâm bao gồm: chuẩn hóa trình độ đào tạo, trẻ hóa đội ngũ, nâng cao năng lực chuyển đổi số. Xây dựng cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong tuyển dụng, tạo điều kiện thu hút sinh viên giỏi về xã công tác. Đẩy mạnh phân cấp, tăng quyền hạn cho chính quyền xã gắn với trách nhiệm giải trình. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho cán bộ xã. Xây dựng hệ thống đào tạo liên tục, giúp cán bộ xã cập nhật kiến thức, kỹ năng mới phục vụ công việc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Tư tưởng hồ chí minh vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã luan van dong quyen in

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ 1. MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ CÁN BỘ VÀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ 1. Khái niệm “cán bộ” Cán bộ là một thuật ngữ quen thuộc không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước XHCN trên thế giới. Ở nước ta, thuật ngữ cán bộ được sử dụng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930) và được sử dụng phổ biến từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, để chỉ một lớp người là những chiến sỹ cách mạng, lớp người mới, sẵn sàng chịu đựng gian khổ hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp cao cả giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Tên gọi cán bộ đã để lại dấu ấn đẹp trong lịch sử cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước. Theo Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng (năm 2006), cán bộ được định nghĩa như sau: - Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể. - Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức phân biệt với người không có chức vụ [72, tr. Từ khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu cán bộ theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc trong cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân từ trung ương đến địa phương cơ sở.

Nghĩa thứ hai, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức để phân biệt với người không có chức vụ, như cán bộ và chiến sĩ; cán bộ và công nhân nhà máy; cán bộ đoàn thanh niên…. Đây chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có chức vụ, phân biệt với người 11 thường, không có chức vụ. Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ hoặc đề bạt, bổ nhiệm. Như vậy, đối với cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), cán bộ được hiểu theo nghĩa thứ hai, tức là những người có chức vụ trong hệ thống tổ chức bộ máy ở cấp cơ sở.

Theo quy định tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và theo quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ “Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”, thì cán bộ cấp xã gồm có các chức danh sau đây: - Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; - Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Khái niệm “chất lượng cán bộ” Hiện nay có nhiều quan niệm, khái niệm về chất lượng cán bộ và được hiểu theo các góc độ khác nhau.

Theo Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng (năm 2006), “chất lượng” hiểu ở nghĩa chung nhất là “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [72, tr. Theo một công trình khoa học nghiên cứu Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước thì “Chất lượng của đội ngũ cán bộ là sự tổng hợp chất lượng của từng người cán bộ. Mỗi một cán bộ mạnh, có đủ đức, đủ tài sẽ tạo nên chất lượng và sức mạnh tổng hợp của toàn đội ngũ” [92, tr.319] Như vậy, chất lượng của cán bộ được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khoẻ, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham gia một cách tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, yêu cầu chất lượng đối với mỗi người trong xã hội nói chung vốn đã cao thì yêu cầu đối với chất lượng cán bộ càng cao hơn - đòi hỏi người cán bộ phải gương mẫu, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ vững tiêu chuẩn và tư cách của người cán bộ.

Chất lượng của cán bộ được đánh giá qua các khía cạnh sau: - Phẩm chất chính trị: đó là quan điểm, lập trường, tư tưởng của người cán bộ, sự tin tưởng tuyệt đối vào lý tưởng của Đảng, chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. - Phẩm chất đạo đức: được thể hiện qua lối sống của cán bộ cấp xã; sự tín nhiệm của nhân dân và uy tín của họ trước tập thể. - Năng lực công tác: Bao gồm trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước; năng lực tư duy lý luận, năng lực 13 tổ chức thực tiễn, năng lực sáng tạo và tính quyết đoán, phong cách làm việc. Cùng với các yếu tố: sức khoẻ, thâm niên công tác, thành phần, dân tộc, giới tính… Trong giai đoạn hiện nay, phẩm chất chính trị của cán bộ phải được đặt lên hàng đầu, là tiêu chuẩn quan trọng quyết định chất lượng của mỗi cán bộ.

Bất luận trong hoàn cảnh nào, họ cũng phải là người cầm lái giữ vững định hướng XHCN, trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, phấn đấu hết mình vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; có tinh thần trách nhiệm, gắn liền với hiệu quả hoạt động, nói phải đi đôi với làm, mang lại lợi ích thiết thực cho nước, cho dân, gắn liền trách nhiệm với mỗi cá nhân, phải thật tận tâm, tận lực phục vụ Tổ quốc, là “công bộc”, là “đày tớ” của dân, trung thực, dám đấu tranh cho lẽ phải, công bằng. Vì vậy, yêu cầu về đạo đức của cán bộ là phải thật sự: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương con người và có tinh thần quốc tế trong sáng. Nhân dân sẽ dựa vào những chuẩn mực đó để lựa chọn, bầu cán bộ vào các chức danh, đồng thời sẽ loại bỏ những người nào vi phạm đạo đức cách mạng. Bên cạnh đó, trình độ năng lực cũng là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả công việc, là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cán bộ ở bất cứ thời kỳ nào.

Yêu cầu về trình độ, năng lực của cán bộ phải toàn diện, vừa rộng, vừa sâu. Cán bộ không chỉ giỏi về chuyên môn, hiểu biết những kiến thức liên quan đến nghiệp vụ lãnh đạo, quản lý mà còn có khả năng nắm bắt, xử lý được các thông tin, các quy luật về kinh tế - xã hội, vận dụng các quy luật đó trong lãnh đạo, quản lý ở từng điều kiện, hoàn cảnh, từng cương vị một cách hiệu quả. Đó là năng lực toàn diện, tổng hợp, luôn thể hiện bằng hiệu quả thực tế, trên cơ sở đó mà đánh giá chất lượng cán bộ. Như vậy, một đội ngũ cán bộ có chất lượng là đội ngũ có đủ phẩm chất và năng lực nắm bắt được những yêu cầu của thời đại, có đủ tài năng, đạo đức và ý chí để thiết kế và tổ chức thực hiện những kế hoạch của tiến trình CNH, HĐH đất nước trên mọi lĩnh vực, đảm bảo thực hiện có kết quả mục tiêu đã đề ra.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ Thứ nhất, công tác đào tạo, bồi dưỡng Chất lượng của cán bộ xã được hình thành và chịu ảnh hưởng rất lớn bởi công tác đào tạo, bồi dưỡng. Có thể thấy, qua đào tạo, bồi dưỡng mà mỗi người tiếp thu được tri thức, kinh nghiệm, các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy để vận dụng vào thực tiễn để từ đó đề ra phương hướng, mục tiêu trong hành động, tự hoàn thiện bản thân và để phấn đấu vươn lên. Hiện nay cán bộ cấp xã nhìn chung còn hạn chế về trình độ chuyên môn. Thực tế này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó có cả việc cấp xã chưa quan tâm chú trọng và nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn chưa mặn mà với cấp xã; tại nhiều địa phương cán bộ cấp xã đều trưởng thành qua quá trình thực tiễn công tác và học tập dần lên, do đó thiếu nền tảng kiến thức chưa đảm đương được nhiệm vụ trong tình hình mới.

Đánh giá về nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém đó, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương lần thứ năm khoá IX chỉ rõ: “…Chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí của cơ sở, quan liêu, để một thời gian khá dài không có chính sách đồng bộ đối với cán bộ, thiếu chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ ở cơ sở” [15, tr. Thứ hai, cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm Việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ cấp xã hiện nay thực hiện theo cơ chế Đảng cử hoặc dân bầu và có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cán bộ cấp xã. Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm là cách thức để hình thành nên đội ngũ cán bộ cấp xã và có ý nghĩa quyết định đối với việc tạo ra đội ngũ cán bộ cấp xã có năng lực hay không.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ