mở đầu ằng những tƣ tƣởng tiên tiến mà các cuộc cách mạng tƣ sản dân quyền ở Mỹ và Pháp đã nêu lên, hẳng định những giá trị pháp lý và đạo lý mang tính phổ quát của nhân loại: “Tất cả mọi ngƣời đều sinh ra có quyền ình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền h ng ai có thể xâm phạm đƣợc; trong những quyền ấy, có quyền đƣợc sống, quyền tự do và quyền mƣu cầu hạnh phúc”. Lời ất hủ ấy ở trong ản “Tuyên ng n Độc lập” năm 1776 của nƣớc Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra ình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sƣớng và quyền tự do.
Bài “Tuyên ng n Nhân quyên và Dân quyền” của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Ngƣời ta sinh ra tự do và ình đẳng về quyền lợi; và phải lu n lu n đƣợc tự do và ình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải h ng ai chối cãi đƣợc”. Trả lời các nhà áo, ngày 2 tháng Giêng 1947, Hồ Chí Minh lại hẳng định: “tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc”.208] Các cuộc cách mạng tƣ sản ở Mỹ và châu Âu thế ỷ XVIII và XIX đã phá ỏ xiềng xích phong iến Trung cổ, hẳng định quyền sống của dân tộc 9 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107.
và quyền sống của con ngƣời. Điều ấy đánh dấu một ƣớc tiến vƣợt ậc của văn minh nhân loại. Tuy nhiên, giai cấp tƣ sản các nƣớc đã đi ngƣợc lại những tƣ tƣởng tiến ộ của những cuộc cách mạng ấy. Th ng qua ộ máy đàn áp, óc lột và thực hành chính sách hiếu chiến, các nƣớc đế quốc chủ nghĩa đã thiết lập sự thống trị, áp ức và óc lột lên nhân dân lao động ở chính quốc và thuộc địa.
Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc tƣ tƣởng của chủ nghĩa Mác - Lênin “giải phóng ách n lệ chính là quyền tự quyết dân tộc”.[4; tr261] Cách mạng tháng Mƣời Nga và ản Tuyên ng n quyền các dân tộc ở Nga mà nhà nƣớc X viết c ng ố ngay sau thắng lợi của Cách mạng đã thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tại các lục địa cũng nhƣ ở Việt Nam đòi quyền dân tộc tự quyết. Trong ối cảnh chính trị thế giới nửa đầu thế ỷ XX và th trong giặc ngoài ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định tự do và độc lập là những quyền lợi cơ ản nhất, cấp ách nhất của dân tộc Việt Nam. Kết thúc ản “Tuyên ng n Độc lập”, Chủ tịch hẳng định với thế giới: “Nƣớc Việt Nam có quyền hƣởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nƣớc tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lƣợng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[ 29;tr.] Độc lập chủ quyền của dân tộc là tiền đề xây dựng nền ngoại giao độc lập tự chủ, có độc lập chủ quyền mới có đƣợc nền ngoại giao riêng.
Ngƣợc lại có nền ngoại giao tự chủ là chuẩn mực để hẳng định độc lập thực sự của dân tộc. Sau cách mạng thành c ng 1945-1946) với cƣơng vị Chủ tịch Chính phủ iêm Bộ trƣởng ngoại giao, Hồ Chí Minh iên trì đấu tranh xây dựng và ảo vệ nền ngoại giao của dân tộc. Nguồn cội đó là nhân tố quan trọng hoàn chỉnh nền độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh nêu r quan điểm: nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dƣới quyền Pháp tức là Việt Nam chƣa độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp; đồng thời Hồ Chí Minh còn hẳng định: độc lập có nghĩa là chúng t i điều hiển lấy mọi c ng việc của chúng t i, h ng có sự can 10 Footer Page 17 of 107.
Header Page 18 of 107. thiệp của ên ngoài. Tƣ tƣởng này của Hồ Chí Minh cũng đồng thời là nguyện vọng chính đáng của mọi dân tộc và là chuẩn mực trong các mối quan hệ quốc tế hiện đại. Tinh thần độc lập, tự cƣờng thể hiện trong những văn iện đầu tiên của Đảng ta hi thành lập Đảng tháng Hai 1930, trong tƣ tƣởng chỉ đạo hoạt động của Việt Minh ở giai đoạn chuẩn ị hởi nghĩa và Tổng hởi nghĩa giành chính quyền, với tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Thấm nhuần tƣ tƣởng mác xít, nhận thức đƣợc vai trò quyết định của nhân tố ên trong hi giải quyết mâu thuẫn, Hồ Chí Minh chủ trƣơng tận lực phát huy sức mạnh của dân tộc, sức mạnh của chủ nghĩa yêu nƣớc, đại đoàn ết dân tộc, chủ động xây dựng lực lƣợng cách mạng để đón ắt thời cơ. Đó là cơ sở để thực hiện hợp tác quốc tế và tranh thủ sự giúp đỡ ên ngoài. Độc lập, tự chủ tức là tự dựa vào sức mình là chính, có tham hảo, chọn lọc inh nghiệm, ài học của quốc tế, nhƣng tự mình phải suy nghĩ, tìm tòi và định ra những chủ trƣơng, chính sách nhằm tự giải quyết lấy c ng việc của mình, h ng c ng nhận ất cứ sức ép nào từ ên ngoài, h ng để iến thành con ài trong tay ngƣời hác. Mức độ độc lập, tự chủ trong hoạt động ngoại giao phụ thuộc vào sức mạnh chính trị, inh tế, quân sự…của đất nƣớc, vào trình độ tƣ duy, trí tuệ, inh nghiệm, phƣơng pháp, hả năng ứng xử…của Đảng và lãnh tụ ta trong hoạt động và chỉ đạo ngoại giao.
Khi đất nƣớc giành đƣợc độc lập, trong nhiều phát iểu, trả lời phỏng vấn trong thời ỳ háng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó hẳng định Việt Nam muốn làm ạn với tất cả các nƣớc dân chủ trên thế giới; hợp tác với mọi nƣớc vui lòng hợp tác thật thà và ình đẳng với Việt Nam [30;tr 220, tr. Sau Hiệp định sơ ộ 6/3/1946), những quyền dân tộc cơ ản của Việt Nam đƣợc thừa nhận, song vấn đề "ngoại giao độc lập" còn phải tranh đấu vì Pháp chƣa thoả thuận. 11 Footer Page 18 of 107. Header Page 19 of 107.
Trong lời tuyên ố của Chính phủ Việt Nam Dân chủ c ng hoà c ng các nƣớc trên thế giới, ngày 14/1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên ố: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nƣớc nào t n trọng quyền ình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nƣớc Việt Nam, để c ng nhau ảo vệ hoà ình và xây đắp dân chủ thế giới”.8] Trƣớc hành động leo thang của thực dân Pháp tại Đ ng Dƣơng, Hồ Chí Minh đã gửi thƣ cho Liên hợp quốc,“. trình ày với Hội đồng ảo an về cuộc xung đột hiện nay, và đề nghị Hội đồng vui lòng chấp nhận những điều chúng t i đã nói., để cho Hiến chƣơng Đại Tây Dƣơng đƣợc t n trọng và để h i phục lại những quyền cơ ản của Việt Nam là đƣợc thừa nhận độc lập dân tộc và thống nhất lãnh thổ”.371] Tại Đại hội Đảng Cộng sản Đ ng dƣơng lần thứ II, trong “Luận cƣợng cách mạng Việt Nam”, Hồ Chí Minh một lần nữa hẳng định: “Chính sách ngoại giao của ta là chính sách ngoại giao có tính dân tộc và dân chủ. Nguyên tắc cơ ản của chính sách đó là: ảo vệ toàn vẹn độc lập, dân chủ, chủ quyền lãnh thổ và thống nhất quốc gia; ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa.[T12; Tr 145] Trong quá trình tìm đƣờng cứu nƣớc, hi tiếp xúc với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh nhanh chóng nhận thức đƣợc chân lý: “Muốn cứu nƣớc và giải phóng dân tộc h ng có con đƣờng nào hác con đƣờng cách mạng v sản”.314] Hồ Chí Minh viết: “Thời đại của chủ nghĩa tƣ ản lũng đoạn cũng là thời đại một nhóm nƣớc lớn do ọn tƣ ản tài chính cầm đầu thống trị các nƣớc phụ thuộc và nửa phụ thuộc, ởi vậy c ng cuộc giải phóng các nƣớc và các dân tộc ị áp ức là một ộ phận hăng hít của cách mạng v sản”. Cũng trong ản “Chánh cƣơng vắn tắt của Đảng”, th ng qua tại hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 8 tháng Hai 1930, đã xác định “.
chủ trƣơng làm tƣ sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách 12 Footer Page 19 of 107. Header Page 20 of 107. mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Trong các nội dung của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng đề ra nhiệm vụ đánh đổ đế quốc chủ nghĩa và ọn phong iến; làm cho nƣớc Nam đƣợc hoàn toàn độc lập.2] Trong quá trình háng chiến giành độc lập dân tộc, trải qua những thời ỳ và mỗi thời ỳ có những nhiệm vụ hác nhau, c ng tác ngoại giao cũng phục vụ những nhiệm vụ hác nhau nhƣng xuyên suốt đó là tƣ tƣởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn 1945-1954, Ngoại giao Việt Nam phục vụ hai nhiệm vụ háng chiến, iến quốc. Trong giai đoạn 1954-1969, ngoại giao thực hiện hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội: phát triển ngoại giao trung lập của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ngoại giao xã hội chủ nghĩa của miền Bắc; hình thành hai nền ngoại giao c ng phối hợp thực hiện hai nhiệm vụ chiến lƣợc dƣới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Ngoại giao tranh thủ viện trợ vật chất, ỹ thuật cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện hợp tác inh tế, tranh thủ đào tạo cán ộ phục vụ xây dựng inh tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Ngoại giao phục vụ việc tập hợp lực lƣợng quốc tế rộng rãi, ph hợp với nhiệm vụ cách mạng từng thời ỳ.
Từ năm 1954, ngoại giao iên định thực hiện đƣờng lối đoàn ết quốc tế với phe xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản, c ng nhân quốc tế, mở rộng mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống chiến tranh xâm lƣợc. Trong quan hệ quốc tế, đối với ạn è, đồng chí của Việt Nam, Hồ Chí Minh lu n thuỷ chung, chân thành xây dựng mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Với những đối tƣợng cụ thể, Ngƣời tìm những điểm đồng để hơi dậy tình hữu ái và tinh thần hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, ít ra cũng làm cho họ h ng c ng hai chống lại ta. Hồ Chí Minh nhận xét về ngƣời Pháp: “Nói chung, những ngƣời Pháp đều yêu chuộng những Đức lành nhƣ: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.