phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án kết cấu làm 4 chương. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn của luận án Trong chương này, NCS tổng hợp cơ sở lý thuyết và một số khái niệm liên quan đến biểu tượng, ký hiệu học và lịch sử tiền giấy Việt Nam; tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước của các học giả trên thế giới và ở Việt Nam về lý thuyết, lý luận biểu tượng học, ký hiệu học và các nghiên cứu thực tiễn về biểu tượng văn hoá và tiền giấy Việt Nam. Dựa trên cơ sở lý thuyết ký hiệu học, NCS tiếp cận các biểu tượng văn hóa như là một yếu tố của ký hiệu để tìm hiểu các tầng ý nghĩa của biểu tượng, đặc điểm về thể chế chính trị, truyền 11 thống và bản sắc văn hoá dân tộc gắn với lịch sử tiền giấy ở Việt Nam. Hệ thống tiền giấy được phân kỳ căn cứ vào tình hình lịch sử, văn hoá của từng giai đoạn, từ đó có thể giải mã ý nghĩa, giá trị của các biểu tượng văn hoá trọng tâm trên tiền giấy Việt Nam.
Biểu tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tiền giấy Việt Nam Trong Chương 2, NCS phân tích, giải mã biểu tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tiền giấy trong 03 giai đoạn lịch sử thể hiện trên tất cả các mẫu tiền từ năm 1945 đến nay. Thông qua việc thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá các yếu tố: tần suất xuất hiện, nghệ thuật thể hiện, vị trí, góc độ và cách thức thể hiện chân dung Bác trên tiền giấy Việt Nam, từ đó nhận diện và nêu ý nghĩa, giá trị văn hóa của biểu tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tiền giấy Việt Nam. Biểu tượng con người trên tiền giấy Việt Nam NCS khảo sát, nhận diện biểu tượng con người trên hệ thống tiền giấy Việt Nam thông qua nghệ thuật, cách thức thể hiện con người Việt Nam trên 104 mẫu tiền từ năm 1945 đến nay, đồng thời gắn với bối cảnh lịch sử để thấy được ý nghĩa của biểu tượng con người trên tiền giấy. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, hình ảnh con người mới trên tiền giấy được thể hiện có sự khác nhau rõ nét, phản ánh mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn, cũng thể hiện tư duy thẩm mỹ, đặc trưng văn hoá của dân tộc.
Biểu tượng quê hương, đất nước trên tiền giấy Việt Nam Qua khảo sát, phân tích tần suất xuất hiện, nghệ thuật và cách thức thể hiện hình ảnh quê hương, đất nước trên tiền giấy Việt Nam, NCS nhận diện, phân tích và tìm hiểu ý nghĩa của các hình ảnh quê hương, đất nước Việt Nam được biểu tượng hóa trên tiền giấy. Đây là một trong 03 biểu tượng chính trên tiền giấy Việt Nam đươc thể hiện phong phú, đa dạng về chủ đề, cách thức song vẫn có sự thống nhất cao, thể hiện xuyên suốt hệ tư tưởng, tư duy thẩm mỹ và đặc trưng văn hoá dân tộc. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến biểu tượng văn hoá trên tiền giấy Việt Nam, để thuận lợi trong việc đánh giá, phân tích các nội dung của luận án, NCS chia thành 02 nhóm là những công trình nghiên cứu về lý thuyết, lý luận về biểu tượng học, ký hiệu học và những công trình nghiên cứu về thực tiễn về biểu tượng văn hóa và tiền giấy Việt Nam.
Những nghiên cứu lý thuyết, lý luận về biểu tượng học, ký hiệu học Trên thế giới, nghiên cứu biểu tượng dù đã xuất hiện từ trước Công nguyên, nhưng đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nghiên cứu biểu tượng mới được coi như một ngành khoa học độc lập. Còn ở Việt Nam, khoa học nghiên cứu biểu tượng đã du nhập vào trong nước từ hơn 100 năm trước, tuy nhiên các công trình nghiên cứu chuyên biệt về biểu tượng và biểu tượng văn hóa thì mới xuất hiện trong mấy thập kỷ gần đây. Vì đây là một khoa học liên ngành, nên các nghiên cứu về biểu tượng rất phong phú, dưới nhiều góc độ, mà ở phạm vi luận án khó có thể đề cập đầy đủ được. Vì vậy, NCS lựa chọn giới thiệu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về lý thuyết, lý luận về biểu tượng học, ký hiệu học của các học giả nước ngoài và ở Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài trước hết phải kể đến tác phẩm “Mỹ học” của nhà triết học Georg W. Ngoài những kiến thức đồ sộ về mỹ học, về ý niệm cái đẹp, nghệ thuật…, ông đã đề cập đến biểu tượng và coi biểu tượng là một trong những thành tố quan trọng tạo nên những giá trị thẩm mỹ của các xã hội tiền giai cấp. Tác phẩm “Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thủy” (1922) của nhà triết học Pháp Lucien Lévy Bruhl [95] đã lý giải về các kinh nghiệm thần bí và biểu tượng liên quan đến tâm tính, khuynh hướng tâm lý và đời sống của người 13 nguyên thủy; phân tích được bản chất và những chức năng của biểu tượng, gắn với những đặc điểm tư duy của người nguyên thủy, đặc biệt là định luật "sự tham dự"…; đồng thời tập hợp được khối tư liệu rất phong phú. Công trình này cũng đưa ra một số diễn giải về lý thuyết biểu tượng và luận giải những hành động có tính biểu tượng của người nguyên thủy.
Nghiên cứu biểu tượng trên cơ sở lý thuyết ký hiệu học phải kể đến nhà ngôn ngữ học Ferdinand de Sausure. Những công trình nghiên cứu của ông trong đó có tác phẩm “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” [116] là cơ sở quan trọng để ra đời hệ thống lý thuyết nghiên cứu biểu tượng dưới góc độ ký hiệu học với mô hình cấu trúc ban đầu là: Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu gồm “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt”. Ngoài ra phải kể đến Iuri Lotman, học giả người Nga với rất nhiều công trình nghiên cứu mang tính hệ thống về nền tảng tri thức ký hiệu học, về biểu tượng văn hóa. Cuốn “Ký hiệu học văn hóa” là tổng hợp nhiều chuyên luận, trình bày những ý kiến độc đáo của ông về những khái niệm phức tạp như ký hiệu, biểu tượng, huyền thoại, văn bản, ngôn ngữ nghệ thuật… Trong chuyên luận “Biểu tượng trong hệ thống văn hóa”, ông cho rằng biểu tượng xuất hiện như là một máy tích điện của tất cả các nguyên tắc của tính ký hiệu và đồng thời vượt ra ngoài giới hạn của tính ký hiệu, đồng thời khẳng định biểu tượng ở bình diện biểu hiện cũng như nội dung, bao giờ cũng là một văn bản [108, tr.
Mặc dù lý thuyết của Iuri Lotman về biểu tượng văn hóa chủ yếu lấy văn bản làm trung tâm, song đây là nền tảng rất quan trọng để NCS áp dụng vào luận án nhằm xây dựng cơ sở lý luận về biểu tượng văn hoá. Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu biểu tượng với các quan điểm khác như: “Phân tâm học và văn hóa tâm linh” (Sigmund Freud và cộng sự) [102] giới thiệu một số bài viết về tục tôtem, biện chứng của cái tôi và vô thức,…; “Man and his symbol” [107] của nhà tâm lý học Carl Gustav Jung tiếp cận biểu tượng trong mối liên quan chặt chẽ đến các giác quan của con người; 14 nhà xã hội học Émile Durkheim, Talcote Parsons, hay nhà nhân học văn hoá Franz Boas, Margaret Mead. nghiên cứu biểu tượng trong sự gắn kết chặt chẽ với sự phát triển tư duy, nhận thức xã hội và thế giới quan, cũng là nghiên cứu nền tảng tinh thần của các dân tộc; nhà nhân chủng học Claude Levi-Strauss thi cho rằng tất cả các sản phẩm xã hội là các hệ thống biểu tượng; mọi nền văn hoá có thể được xem như là 1 tổng thể các hệ thống biểu tượng [dẫn theo 32, tr. Ngoài ra còn có cuốn “Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới” [96] của Jean Chevalier và Alain Gheerbran, bàn luận về lý thuyết biểu tượng và giải mã các biểu tượng của nhiều nền văn hóa khác nhau.
Cuốn từ điển đã đề cập khái quát về đặc trưng của biểu tượng, phân biệt thuật ngữ “biểu tượng” với các thuật ngữ gần nghĩa như: biểu hiệu, vật hiệu, phúng dụ, ẩn dụ,…, đồng thời đề cập đến một số lý thuyết biểu tượng của các học giả trên thế giới. Bên cạnh đó, với các phụ đề: huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình,… cuốn từ điển đã bao quát được nhiều nền vǎn hoá trên thế giới liên quan đến các phương diện dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, thần thoại học.; và có những luận giải sâu sắc, độc đáo, với lượng thông tin phong phú để giải mã các biểu tượng (các mục từ) của các nền văn hoá trên thế giới, từ biểu tượng các con vật, các tục lệ, vật dụng, các màu sắc,. đến biểu tượng các vị thần. Hay cuốn sách “Dấu hiệu, biểu tượng và thần thoại” của Luc Benoist (năm 1975) khái quát về dấu hiệu, thuyết cử chỉ và thế giới biểu trưng, trong đó luận giải ý nghĩa các biểu tượng, dấu hiệu trên thế giới từ lửa, không khí, nước, con số và màu sắc; đồng thời cũng đề cập tới nghi lễ và thần thoại; tóm tắt về những vấn đề của biểu tượng và bước đầu phân biệt khái niệm "biểu tượng" với “biểu trưng”, “dấu hiệu”… Các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam: cũng có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết, lý luận về biểu tượng học, ký hiệu học.
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong một số tác phẩm: “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp 15 cận mới” (1994), “Bản sắc văn hoá Việt Nam” (1998), “Một thức nhận về văn hóa Việt Nam” (2007)… đều đề cập đến biểu tượng. Tác giả cho rằng biểu tượng thuộc về thế giới đầu óc con người, do đó nó trở thành nguồn cội của các sản phẩm văn hoá: “con người lao động, tức là tạo ra một vật mới theo cái mô hình có sẵn trong đầu óc anh ta, do đó anh ta cùng một lúc sống hai thế giới, thế giới thực tế và thế giới các biểu tượng” [60, tr. Nhà nghiên cứu Phạm Đức Dương trong cuốn “Từ văn hóa đến văn hóa học” cho rằng quan hệ tương tác của văn hoá là “Quan hệ giữa Con (tự nhiên) và Người (văn hoá) và thế giới biểu tượng mà con người đã sáng tạo nên.