Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Di sản văn hóa Di sản là khái niệm rộng lớn bao gồm cả môi trường tự nhiên lẫn văn hóa. Bao gồm cảnh quan, các tổng thể lịch sử các di chỉ tự nhiên và di chỉ do con người xây dựng, cả tính đa dạng sinh học, các tập tục truyền thống và hiện hành, tri thức và kinh nghiệm sống còn tồn tại đến ngày nay. Di sản như vậy bao gồm di sản văn hóa và di sản thiên nhiên. Di sản thiên nhiên và văn hóa là nguồn lực vật chất và tinh thần cho sự phát triển lịch sử.
Do đó, nó có một vai trò quan trọng trong đời sống hiện tại và thể hiện quá trình phát triển lịch sử lâu dài của một dân tộc, một quốc gia. Khái niệm di sản văn hóa theo quy định của Luật Di sản văn hóa: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [55] Di sản văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo và tích lũy trong một quá trình lịch sử lâu dài và được lưu truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Do đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII có nhận định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”. Như vậy, theo Luật Di sản do Quốc hội phê duyệt ngày 29-6-2001: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.
Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”. 17 - Di sản văn hóa vật thể: là những sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia (Luật Di sản Văn hóa, điều 4, tiết 2) [65, tr. 212- 213] - Di sản văn hóa phi vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.2 Di tích lịch sử -văn hóa Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm Di tích lịch sử văn hóa: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học.được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [16, tr. Khái niệm di tích lịch sử không chỉ một công trình đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử.
Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa. Theo Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” (Điều 4).2] Căn cứ Điều 28, Mục 1, Chương 4 của Luật Di sản văn hóa được Quốc Hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001 quy định Di tích lịch sử - văn hoá phải có một trong các tiêu chí sau đây: + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; 18 + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; + Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; + Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Căn cứ Luật Di sản văn hóa, di tích được phân loại như sau: - Di tích lịch sử: Di tích lịch sử là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử-văn hóa, khoa học. Di tích lịch sử phải có một trong các tiêu chí sau: + Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá tình dựng nước và giữ nước.
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. + Các công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. - Di tích kiến trúc nghệ thuật: Di tích loại này chứa đựng những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần và thường gắn liền với công trình kiến trúc có giá trị. Các loại hình di tích văn hóa nghệ thuật bao gồm: di tích đình làng, di tích chùa tháp, di tích văn miếu, di tích thành quách, di tích lăng tẩm.
- Di tích khảo cổ: Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hóa khảo cổ. - Danh lam thắng cảnh: là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây: 19 + Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu; + Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất.3 Đình “ Đình là một công trình kiến trúc cổ truyền ở làng quê Việt Nam, là nơi thờ Thành Hoàng và cũng là nơi hội họp của người dân” Theo tác giả Hồ Tường “ Đình là một trong những kiến trúc tiêu biểu cho bản sắc văn hóa Việt Nam. Từ thời Lê – Nguyễn trở đi, mỗi thôn làng Việt Nam đều có một ngôi đình để thờ phụng Thần Thành hoàng - vị thần phù hộ cho tất cả thành viên trong thôn làng.
Cho nên có thể nói rằng hễ ở đâu có người Việt Nam, làng Việt Nam thì nơi đó có đình”.5] - Bảo tồn: Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bảo tồn là giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi: bảo tồn di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa các dân tộc.110] Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Bảo tồn: gìn giữ lại. Bảo tồn mang nghĩa rộng nhất là hoạt động của con người nhằm giữ gìn một cách an toàn những đối tượng khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại. Bảo tồn di tích là những hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó. Bảo tồn di tích là những hoạt động nhằm bảo quản kết cấu một địa điểm một công trình xây dựng ở hiện trạng và kìm hãm sự xuống cấp của di tích.
- Phát huy: Theo Từ điển tiếng Việt, phát huy “là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”.768] Phát huy có nghĩa là tập trung sự chú ý của công chúng một cách tích cực tới các mặt giá trị của di sản văn hóa. Bảo tồn và phát huy là hai khái niệm có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, bổ trợ cho nhau, là hai mặt của một vấn đề. Bảo tồn mà không phát huy 20 thì bảo tồn sẽ có giá trị không cao và ngược lại, hoạt động phát huy giá trị di tích trước hết phải có hoạt động bảo tồn.2 Các quan điểm và nguyên tắc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa 1.1 Quan điểm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (tháng 7/1977) nhận định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị di sản văn hóa truyền thống ( bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [67, tr.63] Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam cũng nêu rõ: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh.
Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh” Luật Di sản Văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhấn mạnh: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.