Chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam, góp phần bảo tồn và phát triển.

Trường đại học

Viện Văn Hóa Nghệ Thuật Quốc Gia Việt Nam

Chuyên ngành

Quản Lý Văn Hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

211
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ NHÂN THỰC HÀNH DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ Ở VIỆT NAM

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Những nghiên cứu về đặc điểm, vai trò của nghệ nhân

1.2. Những nghiên cứu về chính sách đối với nghệ nhân

1.2.1. Di sản văn hóa và chính sách

1.2.1.1. Di sản văn hóa phi vật thể
1.2.1.2. Lý thuyết về động lực của con người

1.2.2. Khái quát về nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam

1.2.2.1. Nghệ nhân và sự sáng tạo

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGHỆ NHÂN THỰC HÀNH DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ Ở VIỆT NAM

2.1. Quá trình xây dựng, ban hành chính sách

2.1.1. Các Nghị quyết của Đảng

2.1.2. Diễn trình ban hành văn bản về chính sách đối với nghệ nhân

2.1.3. Các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ

2.1.4. Các văn bản của địa phương, hội nghề nghiệp

2.1.5. Đề xuất chính sách của một số tỉnh, thành phố

2.2. Thực hiện các chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể thông qua một số chương trình, dự án

2.2.1. Chương trình tôn vinh Nghệ nhân dân gian của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam

2.2.1.1. Xây dựng danh sách Nghệ nhân Quan họ
2.2.1.2. Đề án bảo vệ và phát huy giá trị di sản Hát Xoan Phú Thọ
2.2.1.3. Dự án Mê Công: Dòng sông kết nối các nền văn hóa
2.2.1.4. Dự án Thiết lập Hệ thống Báu vật nhân văn sống ở Việt Nam

2.2.2. Chương trình Mục tiêu quốc gia về văn hóa

2.3. Một số hạn chế của chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể

2.3.1. Sự thiếu đồng bộ, thống nhất và toàn diện của các văn bản

2.3.2. Sự tham gia của các tổ chức xã hội

3. CHƯƠNG 3: GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGHỆ NHÂN THỰC HÀNH DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ Ở VIỆT NAM

3.1. Kinh nghiệm của UNESCO, Nhật Bản và Hàn Quốc

3.1.1. Kinh nghiệm của UNESCO

3.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản

3.1.3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

3.2. Quan điểm, mục tiêu, khung và các nhóm chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam

3.2.1. Quan điểm, mục tiêu

3.2.2. Khung chính sách

3.2.3. Các nhóm chính sách

3.3. Các văn bản quy phạm pháp luật cần điều chỉnh và ban hành mới

3.3.1. Sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa

3.3.2. Sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, Khen thưởng

3.3.3. Ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật dưới luật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chính sách hỗ trợ nghệ nhân

Chính sách hỗ trợ nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam là một phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Nghệ nhân được coi là những người nắm giữ và truyền dạy các giá trị văn hóa phi vật thể, đóng vai trò chủ chốt trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Chính sách này không chỉ nhằm tôn vinh nghệ nhân mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong việc thực hành và phát huy di sản văn hóa. Theo Luật Di sản văn hóa, nghệ nhân được công nhận là những người có công lớn trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể. Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với nghệ nhândi sản văn hóa.

1.1. Vai trò của nghệ nhân trong bảo tồn di sản

Nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể không chỉ là người giữ gìn mà còn là người sáng tạo và phát triển các giá trị văn hóa. Họ là những người có kỹ năng, kiến thức và tâm huyết trong việc truyền dạy các giá trị văn hóa cho thế hệ sau. Nghệ thuật truyền thống như ca trù, quan họ, hay các loại hình nghệ thuật dân gian khác đều phụ thuộc vào sự tồn tại và phát triển của nghệ nhân. Việc hỗ trợ nghệ nhân không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng. Chính sách hỗ trợ cần được xây dựng một cách đồng bộ và hiệu quả để đảm bảo nghệ nhân có thể tiếp tục thực hành và phát huy giá trị văn hóa của mình.

II. Thực trạng chính sách hỗ trợ nghệ nhân

Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ nghệ nhân, nhưng thực trạng cho thấy còn nhiều bất cập. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến nghệ nhân chưa đồng bộ và thiếu tính khả thi. Nhiều nghệ nhân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ, dẫn đến việc họ không thể phát huy hết khả năng của mình trong việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Theo thống kê, số lượng nghệ nhân được công nhận và tôn vinh vẫn còn hạn chế, trong khi đó, nhiều người đã qua đời mà chưa được ghi nhận. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện và hoàn thiện các chính sách hiện hành để đảm bảo quyền lợi cho nghệ nhân.

2.1. Những khó khăn trong việc thực hiện chính sách

Nhiều nghệ nhân không có đủ thông tin về các chính sách hỗ trợ, dẫn đến việc họ không thể hưởng lợi từ các chương trình này. Hệ thống văn bản pháp luật còn thiếu sự đồng bộ, gây khó khăn trong việc thực hiện. Ngoài ra, sự tham gia của các tổ chức xã hội trong việc hỗ trợ nghệ nhân cũng chưa được phát huy tối đa. Điều này ảnh hưởng đến khả năng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể. Cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao nhận thức và tạo điều kiện cho nghệ nhân tiếp cận các chính sách hỗ trợ một cách hiệu quả.

III. Đề xuất hoàn thiện chính sách hỗ trợ nghệ nhân

Để nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ nghệ nhân, cần có những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách hiện hành. Trước hết, cần xây dựng một khung chính sách rõ ràng, đồng bộ và khả thi, đảm bảo quyền lợi cho nghệ nhân. Thứ hai, cần tăng cường sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Cuối cùng, cần có các chương trình đào tạo và phát triển kỹ năng cho nghệ nhân, giúp họ nâng cao năng lực thực hành và truyền dạy di sản văn hóa.

3.1. Xây dựng khung chính sách đồng bộ

Khung chính sách cần được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của nghệ nhân và cộng đồng. Cần có sự tham gia của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và nghệ nhân trong quá trình xây dựng chính sách. Điều này sẽ giúp đảm bảo rằng các chính sách được ban hành phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao. Ngoài ra, cần có các cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả của chính sách để kịp thời điều chỉnh và cải thiện.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ NHÂN THỰC HÀNH DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về đặc điểm, vai trò của nghệ nhân Dựa trên các lĩnh vực quan tâm của mình về các DSVH PVT cụ thể như: Ca Trù, Quan họ, Cồng chiêng, Sử thi, Đờn ca Tài tử, Hát Xoan, Tranh dân gian và nhiều loại hình DSVH PVT khác. Nhóm các tác giả này chủ yếu miêu tả về kỹ năng, kỹ thuật, hiểu biết và các đặc điểm của các nghệ nhân ở mỗi di sản, mỗi loại hình.

Tác giả Nguyễn Xuân Kính, trong bài viết tham dự hội thảo khoa học Vấn đề bảo vệ và phát huy di sản văn hóa với sự nghiệp đổi mới đất nước được Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tổ chức vào năm 2003, đã chỉ ra ba đặc điểm cơ bản của nghệ nhân gồm: (1) Họ là những người có năng khiếu, có khả năng hơn những người khác; (2) Ở họ thường có sự tiếp nối giữa các thế hệ trong một gia đình, dòng họ; (3) Họ là những người có lòng say mê nghề nghiệp, có lương tâm nghề nghiệp, có phẩm chất tốt được cộng đồng mến phục, tin yêu [111, Tr. Đây có lẽ là những đặc điểm chung nhất về nghệ nhân. Ba đặc điểm này đã bao quát được các đặc tính cơ bản của nghệ nhân từ “năng khiếu”, “khả năng”, “sự trao truyền” cho đến “say mê”, “có lương tâm”, “có phẩm chất” và “được cộng đồng mến phục, tin yêu”. Tác giả Nguyễn Quang Tuệ có một số nghiên cứu về nghệ nhân Cồng chiêng, Sử Thi như: “Môi trường và nghệ nhân diễn xướng Sử thi Ba Na (trường hợp huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai)” đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian số 2, năm 2008, “Tìm hiểu cách sáng tạo và lưu truyền Sử thi của người luan an 10 Ba Na”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3, năm 2017.

Tác giả đã mô tả khá cụ thể và chi tiết về đặc điểm thực hành, không gian, môi trường sáng tạo của các nghệ nhân Sử thi Ba Na [102, Tr. Tác giả Tô Ngọc Thanh, trong bài viết “Nghệ nhân dân gian - tài sản vô giá của nền văn hóa Việt Nam” đã nói rõ về vai trò của nghệ nhân, những người đang nắm giữ “gia tài văn hóa”: Cộng đồng tự hào về họ vì nhờ có hoạt động sáng tạo của họ mà bản sắc văn hóa của cộng đồng được thể hiện tập trung, sắc nét. Đồng thời, chính họ là người lưu giữ và truyền dạy cho thế hệ sau vốn liếng văn hóa của cộng đồng,. Nghệ nhân đóng vai trò then chốt trong việc giữ gìn, thực hành và lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc.

Nếu không có họ thì chắc chắn một khối lượng lớn các giá trị văn hóa sẽ không được bảo lưu một cách tập trung nhất cũng như sẽ không có “thầy” để dạy dỗ lớp trẻ,. Đây là những nhận định, quan điểm khởi nguồn cho việc Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đưa ra danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”, một danh hiệu uy tín, có phạm vi quốc gia, được thực hiện sớm và vẫn được duy trì đến ngày nay trong lĩnh vực văn hóa dân gian cũng như DSVH PVT. Tác giả Ngô Đức Thịnh viết trong Thông báo khoa học số 1-2000 của Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, sau được in lại trong cuốn sách Bảo tồn và phát huy DSVH PVT ở Việt Nam, khi nói về một số đặc trưng của DSVH PVT nhấn mạnh đặc trưng là: Văn hóa nói chung, đặc biệt là văn hóa phi vật thể đều là của cộng đồng (gia tộc, làng xã, địa phương, tộc người), nhưng nó tiềm ẩn trong trí nhớ và tâm thức của từng con người cụ thể, qua sự tiếp nhận và thể hiện của từng con người cụ thể, nên nó mang dấu ấn cá nhân và vai trò sáng tạo của cá nhân rất rõ rệt [76, Tr. luan an 11 Đồng quan điểm với tác giả Ngô Đức Thịnh, tác giả Lưu Trần Tiêu cũng nêu trong bài viết vào năm 2000 “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể”: “văn hóa phi vật thể là toàn bộ giá trị lịch sử - văn hóa thuộc mọi lĩnh vực sáng tạo tinh thần, được lưu giữ bằng trí nhớ và được lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng (đặc biệt đối với các dân tộc không có chữ viết), bao gồm: luật tục, phong tục,.

Tác giả Nguyễn Chí Bền đã viết vào tháng 7 năm 2002: “Điều quan trọng hơn cả đối với việc phát huy những DSVH PVT là làm cho di sản ấy sống giữa cuộc đời, như chính bản chất của nó. Làm sao để khơi dậy ý thức cộng đồng, niềm tự hào của cộng đồng về DSVH PVT, để di sản ấy sống trong cộng đồng như bản chất của nó. Đây có thể nói là một trong những quan điểm rõ ràng, sâu xa về mục tiêu, mục đích của hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH PVT. Và đây cũng cho thấy vai trò quan trọng của nghệ nhân, người thực hành, người nắm giữ di sản tại cộng đồng.

Điều này cũng được tác giả Nguyễn Chí Bền tiếp tục nói tới trong cùng bài viết trên: Họ vừa là người sáng tạo, lưu truyền, lưu giữ, trao truyền các DSVH PVT từ thế hệ này qua thế hệ khác. Việc sưu tầm, nghiên cứu, nhất là việc ghi chép bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại không thể không tính đến các nghệ nhân. Phát huy vai trò của nghệ nhân trong cộng đồng là công việc cần thiết mà chúng ta chưa có các chính sách, chủ trương hữu hiệu [76, Tr. Năm 2015, tác giả Bùi Quang Thanh có các bài viết “Quan họ và nghệ nhân Quan họ với quan hệ làng xã và môi sinh văn hóa” và bài viết “Từ môi trường xuất thân của nghệ nhân Quan họ”.

Các bài viết đã bước đầu lý giải những nguyên nhân góp phần tạo thành những nghệ nhân, những người đã và đang nắm giữ di sản và trao truyền di sản, nghệ nhân Quan họ với quan hệ làng xã và môi sinh văn hóa trong môi trường văn hóa đương đại. luan an 12 Có thể nói, xuất phát từ lịch sử nhiều thập kỷ nghiên cứu văn hóa dân gian ở nước ta, các tác giả nghiên cứu về DSVH PVT đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm của nghệ nhân từ cách tiếp cận của văn hóa dân gian hoặc những khoa học liên quan. So với các nghiên cứu khác về nghệ nhân thì nhóm các công trình nghiên cứu này có nhiều bài viết, sách với sự tham gia của nhiều tác giả nhất. Năm 2018, tác giả Nguyễn Đắc Toàn đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Văn hóa học tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam với đề tài: Nghệ nhân Quan họ Bắc Ninh trong đời sống văn hóa đương đại.

Đây là một trong số ít công trình dưới góc độ là một luận án tiến sĩ nghiên cứu cụ thể về nghệ nhân. Bên cạnh việc tìm hiểu về sinh hoạt văn hóa Quan họ dưới góc nhìn tổng thể là một DSVH PVT, tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu, nhận diện nghệ nhân Quan họ xưa và nay, vai trò của họ trong đời sống đương đại, trong việc duy trì, thực hành DSVH PVT Dân ca Quan họ. Tác giả cũng đã bàn luận, vai trò và xu thế biến đổi trong sinh hoạt văn hóa quan họ của nghệ nhân Quan họ Bắc Ninh trên cơ sở nghiên cứu về xu hướng biến đổi của nghệ nhân Quan họ trong bối cảnh ngày nay và vai trò của họ trong đời sống đương đại [98]. Hầu hết các nhà nghiên cứu, với nhiều công trình nghiên cứu công phu về DSVH PVT, đều khẳng định vai trò của con người trong việc lưu giữ, thực hành DSVH PVT; DSVH PVT không nằm ngoài con người, cộng đồng chủ thể.

Các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH PVT cũng đều xoay quanh con người, cộng đồng với vai trò là chủ thể, người nắm giữ DSVH PVT. Tác giả Nguyễn Quang Tuệ đã viết trong bài tham luận và phát biểu tại Hội thảo do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng tổ chức tháng 12/2018 là: “không có nghệ nhân thì không có văn hóa dân gian” [112, Tr. Có thể nói, cho tới nay, các tác giả nghiên cứu về DSVH PVT đều có chung nhận định là nghệ nhân có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát luan an 13 huy giá trị DSVH PVT; muốn bảo vệ DSVH PVT thì trước hết là bảo vệ con người đang nắm giữ, thực hành DSVH PVT. Những nghiên cứu về chính sách đối với nghệ nhân Nghiên cứu về chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT được các nhà nghiên cứu, nhà quản lý đề cập hạn chế hơn so với các nội dung khác của nghệ nhân như vai trò, đặc điểm của nghệ nhân.

Thời gian qua, khi đề cập tới chính sách, đa số tác giả đều cho thấy sự thiếu hụt, bất cập chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT. Từ việc thiếu quan tâm đối với đội ngũ này cho đến việc xây dựng và thực thi chính sách còn nhiều bất cập. Năm 2002, Tác giả Nguyễn Chí Bền đã nói rõ về nội dung này như sau: Không thể không thừa nhận chúng ta chưa có chính sách thỏa đáng về vấn đề này. Lâu nay, mối quan tâm của chúng ta mới chỉ dừng lại ở các DSVH PVT mà chưa quan tâm tới chủ thể sáng tạo của nhân dân mà chưa ý thức đầy đủ khởi thủy sáng tạo ấy là một cá thể,… Phát huy vai trò của nghệ nhân trong cộng đồng là công việc cần thiết mà chúng ta chưa có các chính sách, chủ trương hữu hiệu.

Năm 2015, tác giả Bùi Quang Thanh có một số công trình, bài viết về nghệ nhân được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Tạp chí Văn hóa học, Tạp chí Di sản văn hóa, và công trình tiêu biểu, công phu nhất là về nghệ nhân Quan họ. Bài “Nghệ nhân và chính sách đối với nghệ nhân ở một số nước trên thế giới” viết chung với Nguyễn Thị Nhàn (Tạp chí Di sản văn hóa số 2, 2015) đã nêu ra kinh nghiệm ứng xử đối với nghệ nhân của một số nước trên thế giới như Hàn Quốc, Nhật Bản,… Năm 2016, tác giả Bùi Quang Thanh có công trình Nghiên cứu nghệ nhân Quan họ trong quá trình bảo tồn và phát huy di sản Dân ca Quan họ ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang với sự hỗ trợ của Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam" của tác giả Phạm Cao Quý, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đặng Văn Bài, trình bày những chính sách quan trọng nhằm bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam. Luận án này không chỉ nêu rõ vai trò của nghệ nhân trong việc gìn giữ văn hóa truyền thống mà còn phân tích các thách thức mà họ phải đối mặt trong bối cảnh hiện đại. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về cách thức mà các chính sách văn hóa có thể hỗ trợ nghệ nhân, từ đó góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến văn hóa và di sản, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên báo và đài phát thanh truyền hình Thừa Thiên Huế, nơi đề cập đến các phương pháp bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể; Luận văn về bảo tồn và phát huy giá trị di tích chùa Keo tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, một nghiên cứu về bảo tồn di tích văn hóa; và Luận văn thạc sĩ về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ, nghiên cứu về việc phát huy giá trị văn hóa của một cộng đồng dân tộc cụ thể. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chính sách và thực tiễn liên quan đến di sản văn hóa tại Việt Nam.