Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Văn hóa (mã số: 9319042) của nghiên cứu sinh Phạm Cao Quý, với đề tài "Chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam", được thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đặng Văn Bài (bảo vệ năm 2019). Luận án thuộc hướng tiếp cận định tính kết hợp phân tích chính sách và nghiên cứu liên ngành văn hóa học, tâm lý học và khoa học quản lý.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Năm 2001, Luật Di sản văn hóa được Quốc hội thông qua đã tạo hành lang pháp lý nền tảng cho công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể (DSVH PVT). Trong cấu trúc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nghệ nhân và cộng đồng nắm giữ di sản được xác định là nhân tố then chốt, bởi di sản phi vật thể không tồn tại độc lập ngoài con người mà gắn liền với trí nhớ, tri thức, kỹ năng và quá trình thực hành, trao truyền trực tiếp qua các thế hệ.

Tuy nhiên, thực tiễn quản lý cho thấy hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) về chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT còn bộc lộ nhiều bất cập và khoảng trống:

  • Nhiều quy định thiếu tính đồng bộ, chưa bao quát toàn diện các khía cạnh đời sống và hoạt động nghề nghiệp của nghệ nhân.
  • Nhiều nghệ nhân tiêu biểu qua đời khi chưa kịp nhận được sự tôn vinh hoặc chế độ đãi ngộ phù hợp.
  • Đa số nghệ nhân không thuộc biên chế nhà nước, không có lương hưu, ít được tiếp cận các chế độ an sinh xã hội, đặc biệt là những người sinh sống tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Các chính sách hiện hành chủ yếu tập trung vào việc xét tặng danh hiệu danh dự mang tính thời điểm hoặc trợ cấp khó khăn mang tính cứu trợ xã hội, chưa hình thành khung chính sách kích thích trực tiếp vào động lực sáng tạo, duy trì thực hành và truyền dạy di sản.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là dựa trên hệ thống chính sách hiện có và thực tiễn thực hành DSVH PVT để nghiên cứu về nghệ nhân, hệ thống chính sách và thực tiễn thi hành; từ đó đưa ra đề xuất, khuyến nghị xây dựng hệ thống chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT một cách toàn diện, tổng thể, tiệm cận mức độ "đúng và đủ" nhằm phục vụ công tác quản lý DSVH PVT ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 5 nội dung:

  1. Nghiên cứu lý luận về DSVH PVT, nghệ nhân và cộng đồng trong mối quan hệ tương tác của di sản văn hóa phi vật thể.
  2. Nghiên cứu các nội dung lý luận, phương pháp luận về nhu cầu và động lực sáng tạo của con người với vai trò là chủ thể nắm giữ kỹ năng, kỹ thuật và tri thức di sản.
  3. Nghiên cứu quá trình xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT tại Việt Nam.
  4. Đánh giá thực trạng chính sách đối với nghệ nhân, chỉ ra các ưu điểm, bất cập, thiếu sót để xác định nội dung chính sách phù hợp.
  5. Xây dựng khung chính sách và đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung các chính sách hiện hành (trọng tâm là Luật Di sản văn hóa, Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan).

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Hiện trạng chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT ở Việt Nam hiện nay là như thế nào?
  2. Nếu chỉ dừng lại ở việc ban hành các chính sách liên quan tới "tôn vinh" hoặc chính sách "đãi ngộ" ở góc độ là chính sách "an sinh xã hội" thì đó có phải là cách tiếp cận "đúng và đủ" để phát huy hết vai trò của nghệ nhân thực hành DSVH PVT trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH PVT?
  3. Đâu là chính sách phù hợp để "kích hoạt" vào hoạt động thực hành của nghệ nhân để DSVH PVT được bảo vệ và phát huy hiệu quả trong bối cảnh hiện nay, góp phần vào thúc đẩy sự phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án: Việc ban hành chính sách đối với nghệ nhân thực hành DSVH PVT thời gian qua chưa đạt được kết quả như mong muốn là do chưa xác định được khung chính sách tổng thể đối với đối tượng này, bên cạnh những hạn chế trong kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: DSVH PVT, nghệ nhân thực hành các loại hình DSVH PVT ở Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ trung ương đến địa phương, các chương trình, đề án, dự án thực tế, quy chế địa phương và kinh nghiệm quốc tế (UNESCO, Nhật Bản, Hàn Quốc).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát từ năm 2001 (thời điểm Quốc hội ban hành Luật Di sản văn hóa) đến năm 2019.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam, kết hợp khảo cứu kinh nghiệm quản lý di sản tại Nhật Bản và Hàn Quốc cùng các hướng dẫn chuyên môn của UNESCO.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án tiến hành tổng thuật hai nhóm nghiên cứu chính trong và ngoài nước:

1. Nhóm nghiên cứu về đặc điểm, vai trò của nghệ nhân:

  • Nguyễn Xuân Kính (2003): Chỉ ra ba đặc điểm cơ bản của nghệ nhân: (1) người có năng khiếu, có khả năng hơn người khác; (2) có sự tiếp nối giữa các thế hệ trong gia đình, dòng họ; (3) có lòng say mê, lương tâm nghề nghiệp, phẩm chất tốt được cộng đồng mến phục, tin yêu.
  • Nguyễn Quang Tuệ (2008, 2017, 2018): Khảo sát thực hành diễn xướng sử thi Ba Na tại huyện Kông Chro (Gia Lai), phương thức sáng tạo và lưu truyền sử thi, khẳng định luận điểm "không có nghệ nhân thì không có văn hóa dân gian".
  • Tô Ngọc Thanh: Phân tích nghệ nhân dân gian như tài sản văn hóa vô giá của dân tộc, là "thầy" truyền dạy cho thế hệ sau; đây là cơ sở lý luận để Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam khởi xướng danh hiệu "Nghệ nhân dân gian".
  • Ngô Đức Thịnh (2000) và Lưu Trần Tiêu (2000): Nhấn mạnh văn hóa phi vật thể mang tính cộng đồng nhưng tiềm ẩn trong trí nhớ, tâm thức và dấu ấn sáng tạo cá nhân của con người cụ thể.
  • Nguyễn Chí Bền (2002): Khẳng định yêu cầu bảo tồn di sản sống trong đời sống cộng đồng và nhấn mạnh vai trò trung tâm của nghệ nhân trong sưu tầm, nghiên cứu và trao truyền.
  • Bùi Quang Thanh (2015, 2016): Khảo cứu môi sinh văn hóa làng xã, môi trường xuất thân và nguy cơ biến đổi không gian sinh hoạt của nghệ nhân Quan họ tại Bắc Ninh và Bắc Giang.
  • Nguyễn Đắc Toàn (2018): Luận án tiến sĩ nghiên cứu về nghệ nhân Quan họ Bắc Ninh trong đời sống văn hóa đương đại.

2. Nhóm nghiên cứu về chính sách đối với nghệ nhân:

  • Nguyễn Chí Bền (2002): Phân tích sự thiếu hụt chính sách do cơ quan quản lý trước đây mới chỉ chú trọng di sản mà chưa quan tâm đúng mức tới chủ thể sáng tạo cá nhân.
  • Bùi Quang Thanh và Nguyễn Thị Nhàn (2015): Điểm lại kinh nghiệm ứng xử và cơ chế đãi ngộ nghệ nhân tại Hàn Quốc, Nhật Bản.
  • Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Ủy ban Dân tộc và Trần Hữu Sơn (2018): Đề xuất xây dựng cơ chế chính sách đặc thù cho nghệ nhân vùng dân tộc thiểu số, chính sách trao quyền chủ động cho cộng đồng và chính sách truyền dạy nghệ thuật trong trường học và cộng đồng.
  • Hoàng Cầm, Nguyễn Thị Phương Châm và Nguyễn Thị Hiền (2018): Đánh giá thực trạng thực thi chính sách ở các di sản được UNESCO ghi danh, chỉ ra tiến độ thực hiện Nghị định 62/2014/NĐ-CP còn chậm, việc áp dụng các điều khoản của Luật Di sản văn hóa còn thiếu cụ thể.
  • Nguyễn Quang Tuệ: Phân tích cụ thể các điều khoản tại Nghị định 109/2015/NĐ-CP, phản biện tiêu chí xét trợ cấp chỉ dựa trên hoàn cảnh nghèo khó và bệnh tật, khẳng định chính sách đối với nghệ nhân phải là sự tôn vinh tài năng và cống hiến chứ không phải hoạt động từ thiện hay cứu tế.
  • Bùi Hoài Sơn (2019): Khái quát kinh nghiệm quốc tế với 4 biện pháp bảo vệ báu vật nhân văn sống: cấp chứng nhận quốc gia, cấp trợ cấp, tổ chức chương trình đào tạo trao truyền, bảo vệ bản quyền và xây dựng thương hiệu cá nhân/sản phẩm cho nghệ nhân.
  • Tài liệu và hướng dẫn của UNESCO (1998-2001): Hướng dẫn thiết lập hệ thống "Báu vật nhân văn sống" (Living Human Treasures) nhằm bảo tồn và chuyển giao kỹ năng, kỹ thuật ở trình độ cao.
  • Các học giả quốc tế: Noriko Aikawa - Faure (2014) về tính xác thực và xuất sắc của báu vật quốc gia sống tại Nhật Bản và Hàn Quốc; Dawnhee Yim (2007) về hệ thống đào tạo 3 giai đoạn và 6 cấp độ truyền dạy di sản tại Hàn Quốc; Lưu Khôi Lập và Trương Anh Mẫn (2007) về quan điểm bảo vệ con người truyền thừa tại Trung Quốc.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc miêu tả vai trò, phản ánh thực trạng thiếu hụt chế độ an sinh xã hội hoặc đánh giá kinh nghiệm quốc tế một cách đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu chính sách đối với nghệ nhân một cách hệ thống dưới lăng kính khoa học chính sách kết hợp với lý thuyết tâm lý học về nhu cầu và động lực con người, nhằm thiết lập một khung chính sách hoàn chỉnh (từ tôn vinh, hỗ trợ kinh tế, môi trường thực hành đến cơ chế bảo vệ quyền lợi) và đề xuất phương án sửa đổi chi tiết các văn bản luật tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết về động lực của con người (Abraham Maslow, 1943): Vận dụng Tháp nhu cầu 5 tầng để phân tích các nhóm nhu cầu của nghệ nhân thực hành DSVH PVT:
    • Tầng 1 (Nhu cầu thể lý): Đảm bảo điều kiện sinh hoạt cơ bản, sức khỏe và đời sống vật chất.
    • Tầng 2 (Nhu cầu an toàn): Bảo đảm an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp ổn định khi tuổi cao.
    • Tầng 3 (Nhu cầu giao lưu tình cảm, thuộc về cộng đồng): Môi trường sinh hoạt câu lạc bộ, sự kết nối với cộng đồng thực hành di sản.
    • Tầng 4 (Nhu cầu được quý trọng, tôn vinh): Phong tặng danh hiệu vinh dự nhà nước (Nghệ nhân Nhân dân - NNND, Nghệ nhân Ưu tú - NNƯT, Nghệ nhân dân gian), sự thừa nhận của xã hội.
    • Tầng 5 (Nhu cầu tự thể hiện bản thân): Không gian sáng tạo, tái tạo di sản, truyền dạy cho thế hệ kế tiếp và khẳng định tài năng.
  • Tâm lý học sáng tạo nghệ thuật: Sử dụng 5 cấp độ sáng tạo (thể hiện tri thức nội tại ra bên ngoài, tạo biểu đạt văn hóa mới, phát minh dựa trên quy luật đúc kết, tạo đột phá xã hội, hình thành ngành nghề mới) để đánh giá năng lực tái tạo di sản của nghệ nhân.
  • Lý thuyết Quản lý di sản văn hóa và Khoa học chính sách: Sử dụng định nghĩa chính sách của Vũ Cao Đàm (tập hợp biện pháp thể chế hóa nhằm ưu đãi, kích thích động cơ của nhóm xã hội để đạt mục tiêu chiến lược) và định nghĩa chính sách văn hóa của UNESCO (1967).
  • Khái niệm nghệ nhân do tác giả xác lập: "Nghệ nhân là người nắm giữ và thực hành ở trình độ cao những hiểu biết, kỹ năng, kỹ thuật về DSVH PVT". Khái niệm này phân biệt rõ nghệ nhân truyền thống với nghệ sĩ biểu diễn chuyên nghiệp được đào tạo qua hệ thống trường lớp chính quy.
  • Phân loại di sản văn hóa phi vật thể: Đối chiếu 7 loại hình theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam với 5 lĩnh vực theo Công ước 2003 của UNESCO.
Tiêu chí phân loại Hệ thống pháp luật Việt Nam (7 loại hình) Công ước 2003 của UNESCO (5 lĩnh vực)
Loại hình 1 Tiếng nói, chữ viết Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu (gồm cả ngôn ngữ)
Loại hình 2 Ngữ văn dân gian Nghệ thuật diễn xướng
Loại hình 3 Nghệ thuật trình diễn dân gian Các tập quán xã hội, nghi lễ và lễ hội
Loại hình 4 Tập quán xã hội và tín ngưỡng Tri thức và tập tục liên quan đến tự nhiên và vũ trụ
Loại hình 5 Lễ hội truyền thống Nghề thủ công truyền thống
Loại hình 6 Nghề thủ công truyền thống (Không tách riêng lễ hội và tiếng nói thành mục độc lập)
Loại hình 7 Tri thức dân gian (Được tích hợp trong các nhóm biểu đạt)

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp quản lý văn hóa, khoa học chính sách và tâm lý học.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết của Đảng, báo cáo tổng kết ngành và các tài liệu khoa học trong nước, quốc tế.
  • Phương pháp quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp tham gia quá trình nghiên cứu, xây dựng và triển khai các chính sách, hội đồng xét tặng danh hiệu trong giai đoạn 2001-2019.
  • Phương pháp khảo sát, phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin từ hai nhóm đối tượng thông qua Phiếu khảo sát cán bộ quản lý văn hóa (PKSCB) và Phiếu khảo sát nghệ nhân (PKSNN) tại các địa phương.
  • Phương pháp mô hình hóa: Xây dựng sơ đồ tương quan giữa các loại hình di sản, mối quan hệ giữa Cộng đồng - Nghệ nhân - Di sản, hệ thống hội đồng xét tặng danh hiệu và mô hình hợp tác Nhà nước - Cộng đồng - Nghệ nhân - Xã hội.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản pháp lý: Luật Di sản văn hóa (2001, 2009), Luật Thi đua, Khen thưởng, Nghị định số 62/2014/NĐ-CP, Nghị định số 123/2014/NĐ-CP, Nghị định số 109/2015/NĐ-CP, các văn bản của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
  • Dữ liệu phong tặng danh hiệu: Thống kê hai đợt phong tặng danh hiệu cấp nhà nước năm 2015 và 2019; số liệu phong tặng của Hội đồng lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam.
  • Dữ liệu chương trình, dự án: Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa (giai đoạn 2006-2010 và 2011-2013), Dự án Mê Công, Dự án Thiết lập Hệ thống Báu vật nhân văn sống, Đề án Hát Xoan Phú Thọ, chính sách đãi ngộ nghệ nhân Quan họ tại Bắc Ninh, Bắc Giang.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam

  • Tổng quan học thuật: Hệ thống hóa toàn diện các nghiên cứu về nghệ nhân và chính sách đối với nghệ nhân tại Việt Nam và quốc tế, xác định rõ khoảng trống nghiên cứu về mặt lý luận quản lý.
  • Xác lập cơ sở lý thuyết: Trình bày lý thuyết quản lý di sản, bản chất của chính sách văn hóa, cấu trúc Tháp nhu cầu của Abraham Maslow và tâm lý học sáng tạo nghệ thuật làm khung phân tích cho toàn bộ đề tài.
  • Làm rõ các khái niệm cốt lõi: Luận giải nội hàm khái niệm DSVH PVT, cộng đồng chủ thể và đưa ra định nghĩa chuẩn xác về nghệ nhân thực hành DSVH PVT; phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa cộng đồng và nghệ nhân (nghệ nhân là hạt nhân tiêu biểu nảy sinh từ cộng đồng, thực hành và chuyển giao di sản cho cộng đồng).
  • Phân loại và nhận diện đặc điểm tiếp nhận của nghệ nhân: Xác định 4 môi trường tiếp nhận di sản của nghệ nhân:
    1. Sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống thực hành di sản (tiếp cận sớm, nắm giữ bí quyết gia truyền, chịu áp lực kế thừa).
    2. Sinh ra và lớn lên trong cộng đồng/làng nghề truyền thống (học hỏi tự nhiên trong không gian làng xã, ít áp lực chọn thầy).
    3. Sinh ra và lớn lên ở vùng có truyền thống văn hóa tương đồng (tiếp cận thuận lợi, tự do lựa chọn người truyền dạy).
    4. Sinh ra và lớn lên ở vùng văn hóa khác biệt (tiếp cận khó khăn hơn, xuất phát từ đam mê và nỗ lực cá nhân).

Chương 2: Thực trạng chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam

  • Quá trình thể chế hóa đường lối của Đảng: Điểm lại các Nghị quyết quan trọng (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI) về xây dựng nền văn hóa và bảo tồn di sản dân tộc.
  • Diễn trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
    • Luật Di sản văn hóa (2001, 2009): Lần đầu tiên ghi nhận chính sách tôn vinh và hỗ trợ nghệ nhân.
    • Nghị định số 62/2014/NĐ-CP và Nghị định số 123/2014/NĐ-CP: Quy định chi tiết điều kiện, quy trình xét tặng danh hiệu NNND, NNƯT trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể và nghề thủ công mỹ nghệ.
    • Nghị định số 109/2015/NĐ-CP: Quy định chế độ hỗ trợ đối với NNND, NNƯT có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn.
  • Thống kê kết quả thực hiện chính sách tôn vinh:
    • Qua 2 đợt phong tặng (năm 2015 và 2019) theo Nghị định số 62/2014/NĐ-CP, toàn quốc có 1.253 cá nhân được phong tặng danh hiệu, trong đó có 66 Nghệ nhân Nhân dân.
    • Hội đồng chuyên ngành nghề thủ công mỹ nghệ đã phong tặng 17 NNND và 120 NNƯT.
    • Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian cho khoảng 600 nghệ nhân.
  • Thực hiện chính sách qua các chương trình, đề án thực tế:
    • Dự án Thiết lập Hệ thống Báu vật nhân văn sống ở Việt Nam: Triển khai theo khuyến nghị của UNESCO nhằm nhận diện và lập danh mục nghệ nhân nắm giữ kỹ năng đặc biệt xuất sắc.
    • Đề án bảo vệ và phát huy giá trị di sản Hát Xoan Phú Thọ và Dân ca Quan họ (Bắc Ninh, Bắc Giang): Các địa phương đã chủ động ban hành quy chế tôn vinh và trợ cấp kinh phí hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy hàng tháng.
    • Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa (nguồn vốn ngân sách nhà nước 2006-2010 và 2011-2013): Đầu tư hỗ trợ trang thiết bị, không gian diễn xướng và kinh phí mở lớp truyền dạy di sản tại các địa phương.
  • Hạn chế và bất cập của chính sách hiện hành:
    • Hệ thống văn bản thiếu đồng bộ, có sự chồng chéo và phân tán giữa các bộ ngành (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý di sản văn hóa phi vật thể nói chung; Bộ Công Thương quản lý nghệ nhân thủ công mỹ nghệ).
    • Quy trình xét tặng danh hiệu hành chính hóa, thời gian kéo dài, tiêu chí chưa bao quát hết đặc thù của từng loại hình di sản phi vật thể.
    • Chính sách đãi ngộ vật chất theo Nghị định số 109/2015/NĐ-CP quy định điều kiện thụ hưởng quá ngặt nghèo (chỉ hỗ trợ nghệ nhân có thu nhập thấp, hộ nghèo hoặc mắc bệnh hiểm nghèo), làm biến dạng bản chất của chính sách đãi ngộ cống hiến thành chính sách cứu trợ nhân đạo.
    • Chưa có cơ chế pháp lý rõ ràng bảo vệ quyền tác giả, thương hiệu và quyền lợi kinh tế của nghệ nhân khi tham gia vào các hoạt động dịch vụ, du lịch văn hóa.

Chương 3: Góp phần hoàn thiện chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam

  • Kinh nghiệm quốc tế:
    • UNESCO: Khung hướng dẫn bảo vệ Báu vật nhân văn sống, nhấn mạnh việc tạo lập môi trường để nghệ nhân truyền dạy kỹ năng cho thế hệ trẻ.
    • Nhật Bản: Hệ thống bảo vệ Báu vật quốc gia sống (Living National Treasures) với cơ chế cấp sinh hoạt phí hàng năm để nghệ nhân duy trì kỹ nghệ đỉnh cao và tổ chức triển lãm, truyền dạy.
    • Hàn Quốc: Mô hình truyền dạy 3 giai đoạn (Học viên sơ cấp, Học viên nâng cao, Trợ giảng hỗ trợ đào tạo) chia thành 6 cấp độ năng lực; nhà nước cấp học bổng cho người học và trả lương cho trợ giảng, đồng thời tổ chức trình diễn bắt buộc hàng năm để kiểm định sự chuyển giao di sản.
  • Xác lập quan điểm và mục tiêu hoàn thiện chính sách: Coi nghệ nhân là trung tâm của chính sách bảo vệ di sản; chuyển từ tư duy "cứu trợ, an sinh" sang "kích thích động lực sáng tạo và phát triển năng lực truyền dạy".
  • Đề xuất Khung chính sách đối với nghệ nhân: Bao gồm 4 nhóm chính sách trụ cột:
    1. Nhóm chính sách tôn vinh, khen thưởng: Cải tiến quy trình, tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu NNND, NNƯT đảm bảo minh bạch, tôn trọng đánh giá từ cộng đồng chủ thể; mở rộng các hình thức khen thưởng đột xuất.
    2. Nhóm chính sách hỗ trợ kinh tế và an sinh xã hội: Cấp sinh hoạt phí/phụ cấp trách nhiệm truyền dạy định kỳ cho tất cả nghệ nhân đã được phong tặng danh hiệu (không phụ thuộc vào tiêu chí nghèo đói); cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và hỗ trợ mai táng phí.
    3. Nhóm chính sách hỗ trợ hoạt động thực hành, truyền dạy và sáng tạo: Hỗ trợ không gian diễn xướng, xưởng chế tác; cấp kinh phí mở lớp truyền dạy dân gian tại cộng đồng và đưa nghệ nhân tham gia giảng dạy trong hệ thống giáo dục chính quy.
    4. Nhóm chính sách bảo vệ quyền lợi và phát triển thương hiệu: Hỗ trợ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu cá nhân/làng nghề, tạo cơ chế kết nối nghệ nhân với thị trường công nghiệp văn hóa và du lịch bền vững.
  • Đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:
    • Sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa: Bổ sung chương riêng hoặc các điều khoản cụ thể quy định rõ địa vị pháp lý, quyền lợi, nghĩa vụ của nghệ nhân và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm kinh phí hoạt động truyền dạy.
    • Sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, Khen thưởng: Đồng bộ hóa tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu nghệ nhân giữa các ngành, rút ngắn thời gian giữa các đợt xét duyệt.
    • Ban hành mới các văn bản dưới luật: Xây dựng Nghị định thay thế hoặc sửa đổi Nghị định số 109/2015/NĐ-CP theo hướng mở rộng đối tượng hưởng phụ cấp nghề nghiệp cho toàn bộ NNND, NNƯT.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Ứng dụng thành công lý thuyết Tháp nhu cầu của Abraham Maslow và lý thuyết tâm lý học sáng tạo nghệ thuật vào nghiên cứu chính sách quản lý văn hóa tại Việt Nam, luận giải một cách khoa học mối quan hệ giữa nhu cầu nội tại của nghệ nhân với hiệu quả bảo tồn di sản.
  • Xác lập định nghĩa khoa học và khung tiêu chí nhận diện nghệ nhân thực hành DSVH PVT, phân định rõ ràng giữa nghệ nhân dân gian và nghệ sĩ chuyên nghiệp.
  • Xây dựng mô hình lý thuyết về sự tương tác 4 bên: Nhà nước - Cộng đồng - Nghệ nhân - Xã hội trong quản lý và bảo vệ DSVH PVT.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Tổng kết bức tranh toàn cảnh về thực trạng ban hành và thi hành chính sách đối với nghệ nhân tại Việt Nam từ năm 2001 đến 2019, chỉ ra căn nguyên gốc rễ của những hạn chế, bất cập trong các văn bản hiện hành.
  • Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn trực tiếp phục vụ công tác sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa, Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản quy định chi tiết thi hành.
  • Đề xuất mô hình khung chính sách toàn diện gồm 4 nhóm biện pháp có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam và tương thích với các công ước quốc tế của UNESCO.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát hệ thống văn bản và thực tiễn thực thi trong mốc thời gian từ năm 2001 đến năm 2019. Do tính chất đa dạng và phân tán của 7 loại hình DSVH PVT trên khắp các vùng miền, một số di sản cá biệt ở vùng sâu, vùng xa chưa được khảo sát định lượng ở quy mô lớn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của các chính sách mới sau khi Luật Di sản văn hóa và các Nghị định liên quan được sửa đổi trong giai đoạn tiếp theo.
    • Mở rộng nghiên cứu sâu về cơ chế kinh tế di sản, chính sách thuế, bảo hộ bản quyền và sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm sáng tạo của nghệ nhân trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế số.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và đề xuất điều khoản cụ thể cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội trong việc xây dựng, điều chỉnh các luật và nghị định về di sản văn hóa, thi đua khen thưởng và an sinh xã hội cho nghệ nhân.
  • Đối với chính quyền địa phương: Cung cấp mô hình tham khảo để các tỉnh, thành phố xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tôn vinh, hỗ trợ kinh phí hoạt động cho nghệ nhân và các câu lạc bộ thực hành di sản tại địa phương.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học các ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Di sản học, Chính sách công và Xã hội học văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "Nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể" như thế nào?

Luận án định nghĩa: "Nghệ nhân là người nắm giữ và thực hành ở trình độ cao những hiểu biết, kỹ năng, kỹ thuật về DSVH PVT". Khác với nghệ sĩ biểu diễn được đào tạo qua trường lớp chính quy, nghệ nhân phần lớn được trao truyền tri thức, kỹ năng theo phương thức dân gian truyền thống qua nhiều thế hệ và được cộng đồng chủ thể thừa nhận, tôn vinh về cả tài năng lẫn đạo đức thực hành di sản.

2. Tác giả đã vận dụng Tháp nhu cầu của Abraham Maslow vào phân tích chính sách đối với nghệ nhân như thế nào?

Tác giả phân tích nhu cầu của nghệ nhân qua 5 tầng tháp Maslow để chứng minh chính sách toàn diện phải tác động vào mọi cấp độ nhu cầu:

  • Tầng 1 và 2 (Thể lý, An toàn): Cần chính sách bảo hiểm y tế, trợ cấp sinh hoạt ổn định để đảm bảo đời sống vật chất cơ bản.
  • Tầng 3 (Thuộc về cộng đồng): Tạo điều kiện sinh hoạt trong các câu lạc bộ, cộng đồng thực hành di sản.
  • Tầng 4 (Được tôn trọng): Xét tặng danh hiệu vinh dự nhà nước (NNND, NNƯT).
  • Tầng 5 (Tự thể hiện): Cung cấp không gian, phương tiện và cơ chế để nghệ nhân tự do sáng tạo, tái tạo di sản và truyền dạy cho thế hệ trẻ.

3. Những hạn chế lớn nhất của Nghị định số 109/2015/NĐ-CP được luận án chỉ ra là gì?

Hạn chế lớn nhất là Nghị định 109/2015/NĐ-CP gắn việc xét trợ cấp cho nghệ nhân với tiêu chí "thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn, hộ nghèo hoặc mắc bệnh hiểm nghèo". Cách tiếp cận này đã vô tình biến chính sách tôn vinh tài năng và cống hiến văn hóa thành một dạng chính sách cứu trợ an sinh xã hội thuần túy, khiến đa số nghệ nhân có cống hiến lớn nhưng không thuộc diện nghèo khó không nhận được sự hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ truyền dạy di sản.

4. Hệ thống truyền dạy di sản của Hàn Quốc mà luận án khảo cứu gồm những giai đoạn và cấp độ nào?

Hệ thống đào tạo của Hàn Quốc trải qua 3 giai đoạn: (1) Học viên sơ cấp (do nghệ nhân chọn, nhận học bổng nhà nước); (2) Học viên nâng cao (được kiểm tra đạt chuẩn cao hơn); (3) Trợ giảng hỗ trợ đào tạo (nhận lương từ chính phủ để phụ tá truyền dạy). Toàn bộ hệ thống vận hành qua 6 cấp độ năng lực: Sơ cấp, Nâng cao, Trợ giảng, Ứng cử viên Báu vật nhân văn sống, Báu vật nhân văn sống danh dự và Cựu Báu vật nhân văn sống.

5. Khung chính sách do luận án đề xuất gồm những nhóm trụ cột nào?

Khung chính sách gồm 4 nhóm chính:

  1. Nhóm chính sách tôn vinh, khen thưởng (cải tiến tiêu chuẩn, quy trình xét tặng danh hiệu).
  2. Nhóm chính sách hỗ trợ kinh tế và an sinh xã hội (cấp phụ cấp truyền dạy định kỳ, bảo hiểm y tế).
  3. Nhóm chính sách hỗ trợ thực hành, truyền dạy và sáng tạo (không gian biểu diễn, xưởng nghề, đưa vào trường học).
  4. Nhóm chính sách bảo vệ quyền lợi và phát triển thương hiệu (bảo hộ quyền tác giả, kết nối du lịch và thị trường văn hóa).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Cao Quý đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách đối với nghệ nhân thực hành di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp cách tiếp cận liên ngành giữa Quản lý văn hóa, Khoa học chính sách và Tâm lý học động lực của Maslow, công trình đã làm rõ những điểm nghẽn của hệ thống văn bản pháp luật giai đoạn 2001-2019. Luận án đã đề xuất thành công Khung chính sách 4 nhóm trụ cột cùng các kiến nghị sửa đổi cụ thể cho Luật Di sản văn hóa và Luật Thi đua, Khen thưởng, hướng tới việc bảo vệ con người nắm giữ di sản như một điều kiện tiên quyết để bảo tồn bền vững kho tàng di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.