mở đầu và kết thúc. Với cách tiếp cận này, ta có thể hiểu chƣơng trình truyền hình là một sản phẩm nghe - nhìn hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn hình thức. Nó là kết quả của một quá trình sáng tạo, là tập hợp của nhiều cấp độ lao động khác nhau, tập hợp một hay nhiều tác phẩm khác nhau và tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau. Theo một cách hiểu khác rộng hơn, chƣơng trình truyền hình là cách sắp xếp các nội dung thông tin, tuyên truyền một cách hợp lý trong một khoảng thời gian nhất định.
Chƣơng trình thƣờng đƣợc cấu tạo dấu hiệu nhận biết nhằm phân biệt giữa chƣơng trình này với chƣơng trình khác nhƣ lời chào, nhạc hiệu… Nội dung thông tin trong một chƣơng trình có thể bám xuyên suốt quanh một chủ đề chính, hoặc có điểm tƣơng đồng trong các lần phát sóng khác nhau nhằm phục vụ công chúng khán giả. Thời lƣợng chƣơng trình tùy thuộc vào nội dung thông tin và đƣợc lựa chọn, sắp xếp một cách hợp lý để giúp khán giả tiếp cận chƣơng trình một cách đầy đủ, hệ thống và có chiều sâu. Nhƣ vậy, chƣơng trình truyền hình chính là sự gặp nhau giữa nhu cầu, thị hiếu của công chúng với mục đích, ý tƣởng sáng tạo của ê-kíp sản xuất. Chất lƣợng của chƣơng trình truyền hình đƣợc đánh giá bằng sự quan 14 z tâm của khán giả đối với chƣơng trình đó và mức độ đạt đƣợc mục đích của nhà sản xuất.
Truyền hình là loại hình báo chí mà tin tức, hình ảnh đƣợc phát qua sóng truyền hình bằng âm thanh và hình ảnh động. Hình ảnh chủ yếu và đặc trƣng trong truyền hình là hình ảnh động về hiện thực trực tiếp. Bên cạnh đó truyền hình cũng sử dụng các loại hình ảnh tĩnh nhƣ ảnh tƣ liệu, mô hình, sơ đồ,. Ra đời từ đầu thế kỷ XX và suốt từ đó cho tới thập niên 50, truyền hình cũng chỉ đƣợc xem nhƣ là phƣơng tiện giải trí.
Trải qua quá trình phát triển không ngừng, dần dần, truyền hình đã có đầy đủ chức năng của báo chí, trở thành một loại hình báo chí riêng biệt. Và cũng nhƣ phát thanh, với truyền hình, tính phổ cập đại chúng cao vì không đòi hỏi công chúng phải biết chữ nhƣ báo in. Ƣu thế chính của truyền hình chính là truyền tải cả âm thanh và hình ảnh cùng một lúc. Hình ảnh chủ yếu và đặc trƣng trong truyền hình là hình ảnh động về hiện thực trực tiếp.
Ngoài ra, truyền hình còn sử dụng các loại hình ảnh tĩnh, nhƣ ảnh tƣ liệu, mô hình, sơ đồ, biểu đồ, chữ in… Bằng kỹ thuật dựng hình, ngƣời ta còn có thể dừng các hình ảnh động trong một khuôn hình đặc biệt cần thiết để biến thành một ảnh tĩnh nhằm nhấn mạnh, khắc hoạ một đặc điểm, ý nghĩa cụ thể. Âm thanh trong truyền hình bao gồm: lời nói của con ngƣời, âm nhạc và tiếng động. Nếu coi hình ảnh và âm thanh là hai yếu tố cấu thành ngôn ngữ truyền hình, thì yếu tố hình ảnh luôn chiếm phần chủ đạo, có tính chất quyết định đối với truyền hình. HÌnh ảnh động tạo nên đặc thù của truyền hình, tạo nên sức hút đặc biệt và chuyên chở phần thông tin chủ yếu của các chƣơng trình truyền hình.
Tuy nhiên, tiếng nói, bộ phận chính của âm thanh cũng có vai trò quan trọng trong việc chuyển tải nội dung thông tin. Bởi lẽ, ý nghĩa xác định của thông điệp đƣợc thể hiện bằng lời nói. Mặt khác, những tƣ tƣởng thể hiện qua ngôn từ bao giờ cũng đầy đủ hơn các biểu đạt khác về cả chiều 15 z rộng và bề sâu của chúng, nhất là trong trƣờng hợp những tƣ tƣởng đó có mối quan hệ phức tạp. Sự kết hợp giữa hình ảnh động và âm thanh tạo cho truyền hình khả năng chuyển tải thông tin vô cùng phong phú.
Hầu hết các sự kiện, hiện tƣợng nào trong xã hội đều có thể biểu đạt, phản ánh trên truyền hình. Đặc điểm này tạo cho truyền hình một khả năng đặc biệt trong việc đa dạng hóa chức năng, đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội. Thông tin truyền hình tái hiện cuộc sống hiện thực ở trạng thái sống. Nói cách khác, truyền hình hấp dẫn công chúng ở chỗ, nó cho ngƣời ta thấy cuộc sống hiện thực ở những chi tiết, những trạng thái của bản thân cuộc sống đang diễn ra ngay trƣớc mắt chúng ta.
Ngày nay, khi chất lƣợng kỹ thuật hình ảnh ngày càng hoàn thiện, truyền hình ngày càng hấp dẫn công chúng hơn. Vì thế, truyền hình trở thành kẻ cạnh tranh đầy uy lực với các loại hình phƣơng tiện truyền thông đại chúng khác nhƣ sách, báo, phát thanh… Sức mạnh của truyền hình ngày càng tăng do phạm vi ảnh hƣởng rộng rãi của nó. Những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại tạo ra khả năng cho truyền hình xâm nhập tới bất cứ ngõ ngách nào trên mặt đất nếu điều kiện tài chính cho phép. Với kỹ thuật cáp quang, vệ tinh địa tĩnh, sóng tín hiệu truyền hình tạo thành một mạng lƣới đƣa các kênh truyền hình bao phủ lên khắp bề mặt địa cầu, phá vỡ những ranh giới địa chính trị, thu hẹp không gian truyền hình.
Công chúng truyền hình thƣờng là số đông, nên quá trình xem truyền hình cũng còn là quá trình trao đổi, phân tích để tái nhận thức thông tin ở một chất lƣợng mới. Điều này tạo nên một tính chất đặc thù, một sức mạnh to lớn, mà không một phƣơng tiện truyền thông đại chúng nào có thể so sánh nổi. Chất lƣợng và sức mạnh ấy bảo đảm cho truyền hình trở thành một nhân tố có ảnh hƣởng vô cùng to lớn đến dƣ luận xã hội, cũng nhƣ những tƣ tƣởng ở chiều sâu bên trong của nó. Ngay nay, khó có một lực lƣợng chính trị nào, 16 z một nhà chính trị nào có thể thành công nếu không hiểu đƣợc truyền hình và sức mạnh của nó.
Nếu nhƣ công chúng chỉ có thể tiếp nhận thông tin bằng con đƣờng thị giác đối với báo in, bằng thính giác đối với phát thanh thì đối với truyền hình, khán giả tiếp cận bằng cả thị giác và thính giác. Hơn nữa, hình ảnh trên truyền hình còn có tính sinh động, hấp dẫn và tính sát thực bởi là hình ảnh động, trong khi hình ảnh của báo in là hình ảnh tĩnh. Các lợi thế trên tạo ra sức hấp dẫn lớn cho truyền hình và cũng làm tăng hiệu quả của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Chính vì “mắt thấy, tai nghe” nên khán giả dễ dàng bị thuyết phục với những gì đang diễn ra trên truyền hình.
Tuy nhiên, tín hiệu hình ảnh động và âm thanh theo tuyến tính của truyền hình làm cho đối tƣợng công chúng bị động hoàn toàn về tốc độ, trình tự tiếp nhận thông tin. Những thông tin phức tạp, có mâu thuẫn logic khó có thể chuyển tải đầy đủ trên truyền hình. Bên cạnh đó, khi xem truyền hình, ngƣời tiếp nhận thông tin hầu nhƣ tập trung toàn bộ các giác quan vào những gì đang diễn ra trên màn hình. Điều này cản trở các khả năng kết hợp tiếp nhận thông tin truyền hình với các hoạt động sống khác của con ngƣời.
Sự cồng kềnh về thiết bị, phƣơng tiện kỹ thuật ghi hình, chuyển phát sóng hình không cho phép ngƣời ta tiếp cận nhanh những sự kiện thời sự ở xa các thành phố hay trung tâm, hay ở những địa hình núi non hiểm trở. Văn hóa và vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Có nhiều định nghĩa về văn hóa nhƣng phổ biến và đƣợc nhiều ngƣời công nhận là văn hóa bao gồm tất cả những giá trị tinh thần và vật chất mà con ngƣời tạo ra trong quá trình lao động, sinh sống thực tiễn suốt chiều dài lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh 17 z hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Quan niệm này thể hiện cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch sử, về phạm vi rộng lớn của văn hóa và những biểu hiện của văn hóa trong đời sống và toàn bộ sinh hoạt của con ngƣời. Quan niệm toàn diện và sâu sắc của Hồ Chủ Tịch về văn hóa có ý nghĩa quan trọng, hƣớng định đƣờng lối xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc mà Đảng đã xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”. Qua văn hóa, ngƣời ta có thể đánh giá trình độ phát triển của xã hội qua các thời kì lịch sử cụ thể.
Nói chung, hiểu một cách đơn giản là vì con ngƣời cần phải sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống nên phát minh và sáng tạo ra chữ viết, ngôn ngữ, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, khoa học cũng nhƣ văn học nghệ thuật, sáng tạo ra các công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn ở, mặc cùng các phƣơng thức sử dụng. Tất cả những điều mà con ngƣời phát minh và sáng tạo ra chính là văn hóa. Nhƣ vậy, văn hóa do con ngƣời sáng tạo ra để phục vụ lợi ích của mình. Văn hóa là của con ngƣời và đƣợc cộng đồng giữ gìn qua các thế hệ, đƣợc dùng để phục vụ đời sống con ngƣời có tính lƣu truyền và kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Có một số định nghĩa khác nhau về giá trị văn hóa, tuy nhiên có thể thấy rằng chúng đều có điểm chung là nhấn mạnh đến vai trò chi phối hay tác động đến sự lựa chọn (phƣơng thức giao tiếp, hay hành vi ứng xử). Trong số các yếu tố tinh thần thì các giá trị văn hoá đóng vai trò quan trọng nhất, điều tiết các hành vi của con ngƣời trong xã hội. Trong ngôn ngữ của các dân tộc, khái niệm giá trị thƣờng đƣợc dùng với hàm nghĩa tích cực. Giá trị là hệ thống những đánh giá của con ngƣời về 18 z bất cứ một hiện tƣợng tự nhiên, xã hội hay tƣ duy theo hƣớng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, có ý nghĩa.