Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ LỄ HỘI VÀ DI TÍCH ĐÌNH LÀNG NGỌC TÂN 1. Một số khái niệm 1. Lễ hội và lễ hội truyền thống 1. Lễ hội Cho đến nay, ở nước ta có nhiều tác giả khi nghiên cứu về lễ hội đều đưa ra một khái niệm của mình về đối tượng này.
Dưới đây, tác giả luận văn nêu lên một số khái niệm về lễ hội của các tác giả đi trước để lựa chọn một khái niệm cho luận văn của mình: Trong cuốn Kho tàng lễ hội cồ truyền Việt Nam do nhóm tác giả Nguyễn Chí Bền, Trần Lâm Biền, Bùi Khởi Giang viết năm 2000 đã quan niệm về lễ hội như sau: Lễ hội là một hoạt động sinh hoạt cộng đồng, một nét đặc trưng của đời sống tâm linh, phản ánh phong tục tập quán của người dân Việt Nam. Lễ và hội là một tổng thể thống nhất không thể chia tách. Lễ là phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người, là phần đạo, còn hội là phần tập hợp vui chơi, giải trí, là đời sống văn hóa thường nhật, phần đời của mỗi người, của cộng đồng. Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định nhất định của lễ, có lễ mới có hội [4, tr.
Trong cuốn Lễ hội cổ truyền, tác giả Lê Trung Vũ quan điểm về lễ hội như sau: Lễ hội là việc dân làng mở hội cốt nhằm mục đích hồi tưởng công lao của thần, qua đó thêm một lần tô đậm sự cộng cảm giữa những người cùng làng, tức là những người cùng hưởng ân đức của một vị thần. Mở hội cũng là thêm một lần, trong không khí thiêng liêng, ôn 9 lại điều tâm niệm chung của cộng đồng về phẩm chất cần trau dồi như sự gắn bó với những người cùng làng. Hội làng được mở cũng là lúc dân lành hy vọng rằng ước nguyện của toàn thể cộng đồng về một đời sống chung no đủ, giàu có, bình an, được trở thành hiện thực. Họ gửi gắm vào lời cầu khấn thần Thành hoàng - vị thần bảo hộ của làng.
Hội làng là nơi biểu hiện sự tập trung tư tưởng và tâm lý của dân làng bao gồm lòng sùng kính những bậc có công với làng nước, ý thức cộng đồng, nguyện vọng, ước mơ về một cuộc sống thái bình thịnh vượng [49, tr. Từ các khái niệm đã nêu của một số nhà nghiên cứu đi trước, tác giả có kế thừa và đưa ra quan niệm về lễ hội như sau: Lễ hội là dịp tập hợp một nhóm cộng đồng cư dân nhất định, ở một không gian cụ thể, trước là để thực hành các nghi thức, nghi lễ, sau là cùng nhau vui chơi trong các hoạt động hội mang đặc trưng vùng miền. Lễ hội truyền thống Lễ hội truyền thống được hình thành từ phong tục tập quán, tín ngưỡng và nhu cầu đời sống tâm linh, vui chơi giải trí của nhân dân và xuất phát từ quy định của thể chế chính trị đương thời. Lễ hội truyền thống là các lễ hội như hội đền, hội đình, hội chùa, là sinh hoạt cộng đồng về văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo được hình thành trong lịch sử từ xa xưa, được truyền lại trong cộng đồng nông nghiệp với tư cách một phong tục.
Để đảm bảo tính truyền thống, phần lễ nhất thiết phải mang tính khuôn mẫu, nghiêm trang, đúng ý nghĩa thiêng liêng. Nội dung buổi nghi lễ phải được cân nhắc đối chiếu kỹ lưỡng. Phần Hội tuy có phần nào biến đổi theo thời gian nhưng phải có các trò chơi dân gian, giải trí, sinh hoạt cộng đồng. Dù sử dụng định nghĩa nào thì một lễ hội truyền thống cũng phải đảm bảo đủ 10 các yếu tố: là một hình thức sinh hoạt văn hóa, có tính chất thiêng liêng, tính cộng đồng, khuôn mẫu và được diễn ra theo chu kỳ.
Đặc trưng cơ bản của lễ hội truyền thống là gắn với đời sống tâm linh tôn giáo tín ngưỡng, sự kiện và nhân vật lịch sử, mang tính thiêng liêng, ngôn ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, là hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm sinh hoạt nghi lễ, nghi thức, phong tục, tập quán,là nơi giao tiếp, gắn kết xã hội, tổ chức các cuộc thi tài, vui chơi giải trí, buôn bán, chủ thể của lễ hội truyền thống là toàn thể cộng đồng. Lễ hội truyền thống là một giá trị văn hóa lớn trong đời sống truyền thống và hiện đại. Tuy nhiên, phân tích sâu hơn nữa, người ta đã tìm ra những giá trị văn hóa tiêu biểu của lễ hội truyền thống, một hiện tượng văn hóa mang tính trội là tính cộng đồng. Ngoài ra, nó còn là biểu hiện rõ nét của tính chất tự quản, tinh thần dân chủ, nội dung nhân bản.
Lễ hội truyền thống là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, trình diễn và các hình thức khác. Di tích, di tích lịch sử văn hóa và di sản văn hóa Theo luật Di sản văn hóa: Di tích là những công trình được xây dựng trong quá khứ để lại có giá trị. Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, công trình có giá trị lịch sử - văn hóa, khoa học cũng như giá trị văn hóa khác [30]. Di sản văn hóa là tập hợp các biểu hiện vật thể hoặc biểu tượng di sản quá khứ cho mỗi nền văn hóa và do đó là của toàn thể nhân loại (theo UNESCO).
Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được bảo tồn từ thế hệ này qua thế hệ khác. 11 Quản lí nhà nước về di sản văn hóa là tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa. Quản lý và quản lý lễ hội 1.
Quản lý Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển, đều phải tuân thủ và chịu một sự quản lý nào đó. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội hóa càng cao, thì yêu cầu quản lý càng cao và vai trò của quản lý càng tăng lên.
Thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người. Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt, trông nom công việc. Theo nghĩa thông thường, phổ biến nhất: “Quản lý là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng để điều chỉnh các quá trình phát triển xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển đối tượng theo những mục tiêu đề ra” [17, tr.
Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra. Trong đó mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý. Về khái niệm quản lý, tác giả Cao Đức Hải quan niệm: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [14]. Thuật ngữ quản lý ở nước ta cũng thường được hiểu là sự lãnh đạo, 12 điều hành, giám sát của con người hoặc tổ chức cấp trên đối với người hoặc tổ chức cấp dưới.
Tóm lại có thể hiểu quản lý là một hoạt động có chủ đích, là sự tác động liên tục của chủ thể quản lý đến khách thế quản lý về nhiều mặt bằng một hệ thống luật lệ, chính sách, nguyên tắc và phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định. Trong quá trình quản lý, chủ thể tiền hành các hoạt động cơ bản như: xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều chỉnh hoạt động để thực hiện các mục tiêu đề ra. Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý. Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước, các văn bản luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người.
Điểm khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước và quản lý khác (ví dụ: quản lý các doanh nghiệp nhà nước,…) là tính quyền lực nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước khi cần. Quản lý nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của cơ quan trong bộ máy nhà nước. Về khái niệm quản lí nhà nước, tác giả sách Luật hành chính viết: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điểu chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan nhà nước hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn những nhu cầu hằng ngày của nhân dân [21, tr. Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong 13 lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Quản lý nhà nước về văn hóa là sự lãnh đạo, điều hành, kiểm soát của các cơ quan văn hóa đối với các lĩnh vực được quy định, trong đó có quản lý lễ hội.