Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội. Chƣơng 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội.
Kết luận 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến lĩnh vực quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Có thể nêu một số bài phân tích, bình luận trên tạp chí, chẳng hạn nhƣ: - Nguyễn Phú Giang, 2014. Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp và những vấn đề đặt ra hiện nay,< http://www.
Bài viết của tác giả đã nêu ra tầm quan trọng của quản lý tài chính tại đơn vị SNCL. Và để việc quản lý tài chính có hiệu quả, công tác quản lý cần thực hiện ba khâu: thứ nhất, lập dự toán thu chi ngân sách nhà nƣớc (NSNN) trong phạm vi đƣợc cấp thẩm quyền giao hàng năm; thứ hai, tổ chức chấp hành dự toán tài chính hàng năm theo chính sách của Nhà nƣớc; thứ ba, quyết toán thu chi NSNN. Qua đó, tác giả cũng đã nêu rõ những vấn đề đặt ra đối với quản lý tài chính đơn vị SNCL ở Việt Nam hiện nay góp phần vào công tác hoàn thiện quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp. - Tạp chí tài chính số 10, 2014.
Để đổi mới hiệu quả cơ chế quản lý hoạt động sự nghiệp công lập. Bài viết của tác giả đã nêu ra thực trạng cơ chế quản lý hoạt động sự nghiệp công, những hạn chế trong việc đổi mới cơ chế quản lý hoạt động SNCL nhƣ chính sách hai giá vẫn đƣợc duy trì trong việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hay cơ chế quản lý và phƣơng thức hoạt động của các đơn vị SNCL chƣa đƣợc đổi mới đồng bộ dẫn đến chất lƣợng hiệu quả còn chƣa cao. Qua đó, tác giả đƣa ra định hƣớng đổi mới cơ chế hoạt động SNCL và các kiến nghị về chính sách tài chính nhƣ Nhà nƣớc phải có các biệ pháp mạnh hơn trong việc yêu cầu các bộ, ngành thực hiện việc chuyển đổi từ cơ chế giao 4 z dự toán sang cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ để giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị SNCL. Bàn về thực trạng quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu đã công bố về lĩnh vực này nhƣ sau: Nguyễn Tấn Lƣợng (2011),“Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trƣờng đại học Kinh tế TP.
Luận văn của tác giả trình bày rõ ràng những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính tại các trƣờng đại học công lập trên địa bàn TP. Những kết quả nghiên cứu của luận văn đã góp phần bổ sung và hệ thống hóa các vấn đề về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cơ chế quản lý tài chính tại các trƣờng đại học công lập. Luận văn đã đƣa ra chi tiết các công cụ quản lý tài chính tại các trƣờng đại học công lập. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn đồng thời đƣa ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính tại các trƣờng đại học công lập trên địa bàn TP.
Bên cạnh đó, dù ở TP.HCM bao gồm rất nhiều trƣờng đại học công lập nhƣng tác giả mới chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu một số trƣờng đại học công lập điển hình trên địa bàn TP.HCM thực hiện tự chủ tài chính một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động thƣờng xuyên. Nguyễn Thị Kim Anh (2012)“Quản lý tài chính trường cao đẳng lương thực thực phẩm Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sỹ, Trƣờng Đại học Đà Nẵng. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về các nguồn tài chính và quản lý tài chính ở các trƣờng đại học, cao đẳng công lập trong điều kiện hiện nay, qua đó đã khẳng định vai trò của tài chính giáo dục, trong đó nguồn NSNN giữ vai trò quan trọng và quyết định. Thông qua phân tích, đánh giá thực trạng các nguồn tài chính và hoạt động quản lý tài chính của trƣờng cao đẳng lƣơng 5 z thực thực phẩm Đà Nẵng, một mặt luận văn đã chỉ ra đƣợc tài chính thực sự là công cụ hữu hiệu và là động lực kinh tế quan trọng để Trƣờng hoàn thành nhiệm vụ to lớn mà Đảng và Nhà nƣớc giao phó, tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ giảng viên, qua đó tạo động lực để nâng cao hiệu quả giảng dạy và nghiên cứu.
Mặt khác qua những yêu cầu, đòi hỏi bức xúc từ thực tiễn đặt ra luận văn đã chỉ ra tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện đa dạng hóa các nguồn tài chính, quản lý và sử dụng tài chính có hiệu quả. Bên cạnh đó, luận văn còn những tồn tại những hạn chế nhƣ số liệu chƣa đƣợc cập nhật kịp thời. Nguyễn Thị Hƣơng (2015) “Quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới quản lý tài chính giáo dục đại học”, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Khoa học xã hội. Luận án cho thấy trong thời gian qua ĐHQGHN đã từng bƣớc hoàn thiện cơ chế quản lý, từ công tác lập kế hoạch đến phân bổ chỉ tiêu cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu, phân cấp quản lý, …Tuy nhiên, việc quản lý tài chính vẫn còn bộc lộ một số điểm yếu kém, bất cập nhƣ nguồn thu hạn chế, phân bổ tài chính chƣa khuyến khích nâng cao chất lƣợng đào tạo, cơ cấu chi chƣa thật hợp lý, năng lực đội ngũ cán bộ và công tác kế hoạch tài chính hạch toán kế toán chƣa đáp ứng yêu cầu…Những bất cập đó có nguyên nhân bên trong là do cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN, còn nguyên nhân gián tiếp bên ngoài xuất phát từ những bất cập chung trong công tác quản lý tài chính của các trƣờng đại học công lập ở Việt Nam.
Từ việc phân tích những bất cập trên và nguyên nhân của chúng luận án đã đƣa ra một số gợi ý về đổi mới cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN, đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của ĐHQGHN. Các công trình trên tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau và đã đề cập đến nhiều khía cạnh về hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại đơn vị sự 6 z nghiệp công lập. Tuy nhiên chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt về vấn đề quản lý tài chính tại Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội. Khái lƣợc về đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Khái niệm, đặc điểm và phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm Đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc (Nguồn: điều 9, Luật viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010). Đặc điểm Một là, đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị cung cấp các dịch vụ công, hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trƣờng chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận nhƣ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhà nƣớc tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động này để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trƣờng trƣớc hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nƣớc trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trƣờng. Sản phẩm của các đơn vị SNCL sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thƣờng, nâng cao dân trí, bồi dƣỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân. Hai là, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp là các sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần của xã hội. Sản phẩm, dịch vụ của đơn vị sự nghiệp chủ yếu là các giá trị về tri thức, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, chăm sóc sức 7 z khỏe,… có tính phục vụ không chỉ cho một ngành, một lĩnh vực nhất định mà kho tiêu thụ sản phẩm đó thƣờng có tác dụng lan tỏa, truyền tiếp, tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Sản phẩm đó là “hàng hóa công cộng” hoặc hàng hóa tƣ thiết yếu mà khu vực công phải cung cấp có tác động về trí và lực của con ngƣời, đến toàn bộ đời sống của con ngƣời cũng nhƣ đến quá trình tái sản xuất xã hội. Ba là, hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nƣớc. Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội. Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia nhƣ : Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia việc làm và dạy nghề, Chƣơng trình xóa mù chữ, Chƣơng trình dạy nghề cho lao động nông thôn, Chƣơng trình xóa đói giảm nghèo… Những chƣơng trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nƣớc, với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả.
Đề thực hiện các chƣơng trình trên, các đơn vị SNCL đƣợc sử dụng nhƣ những công cụ, nhằm cung ứng cho xã hội những dịch vụ công phù hợp với mục tiêu của chƣơng trình.