Chương I TONG QUAN CAC KET QUA NGHIÊN CỨU VE QUAN LÝ TƯỚI CO SỰ THAM GIÁ VÀ TÔ CHỨC DUNG NƯỚC. Tổng quan về quản lý trới có sự tham gia và mô hình tổ chức đăng nước ở nước ngoài. “Thay lợi phục vụ sin xuất nông nghiệp tạo ra một phin ba nhủ cầu lương thực toàn sầu và đồng góp 40% sản lượng lương thực châu A. Nhu cầu ngày cing tăng của sử dụng nước đô thị, công nghiệp, môi trường ngày càng hạn chế lượng nước có thể sử cđụng cho sin xuất nông nghiệp.
Cho dù có được những thành tích không thé phủ nhận trong thời gian qua trong việc đồng gi ào sản xuất lương thực, phát triển tưới tiêu trên thé giới đang bị chậm lại do mắt diện tích tưới tiêu vì ting, nhiễm mặn, khai thác. quá tải nước ngằm và sự bảnh trưởng của đ thị ở một số nước và đặc biệt à hiệu quả thấp của các bệ thing thuỷ nông mà nguyên nhân chủ yêu là chưa quan tâm ding mức: «én công tác quản lý khai thác. Giải pháp duy nhất để p ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng trong bối cảnh tài nguyên đất và nước có hạn là tăng hiệu quả sử dụng tài ngụ) lất và nước, thông qua các giải pháp nâng cao hiệu quả quán lý khai thác các công trình thuỷ lợi “rên thé giới hiện nay tổn tại rất nhiễu mô hình quản lý công nh thủy lợi Khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm các hệ thống công trinh và điều kiện kinh 18, xã hội của từng nước. Ở một số nước, công ty quản lý thuỷ nông nhà nước, là các công ty phục vụ sông cộng vẫn được duy ti, Ở một số trường hợp khác, nhiệm vụ quản lý được chuyển siao cho một tổ chức bán nhà nước.
Quan lý thuỷ nông có sự tham gia của cộng đồng đã có lịch sử phát tiễn ít ở nhiễu quốc gia trên ¢ ất quả tổng kết đánh giá hiệu quả của việc nông dân tham gia quản lý tưới tiêu của tổ chức Ngân. àng thể giới (WB, 2009) cho thấy các mô hình quản lý này đã phát huy được hiệu quả và thé hiện rit rõ ở các khía cạnh: ~_ Giảm bớt gánh nặng của chính phủ cho các hoạt động vận hành, bảo dưỡng công tình thay lợi (O&M), phát huy ngu lực ea cộng đồng vào khi thác và quân lý hệ thông tưới - Tạo, kiện tốt hơn cho những người hưởng lợi tham gia vào vận hành và duy tu bảo dưỡng hệ thông, một cách thiết thực, gắn nhiệm vụ của hệ thống với các hoạt động sản xuất của họ. = Khi nông dân tham gia vào quản ý, hoạt động của hệ thống thuỷ nông tốt hơn đồng nghĩa với năng suất đất và nước cũng cao hon ~_ Nông dân tham gia vận hành và duy tu bảo dưỡng hệ thống cũng có tie động ích cue đến chất lượng dich vụ tưới tiêu. Nông dân nhận thấy rằng việc phân phối nước trên hệ thống của họ quản lý công bằng hơn, linh động hơn và ổn định hơn.
‘Theo định nghĩa của tổ chức FAO "Quản lý tưới có sự tham gia của người dùng nước”, viết là PIM (Participatory Inigalion Management) có nghĩa là việc quản lý bởi người sử dụng nước tưới ở mọi khía cạnh và mọi cắp độ trong công tác quản lý tưới. PIM còn có thể định nghĩ theo 2 khía cạnh: 1) Quả lý: a kiểm soát việc quản lý; 2) sự tham gia của người dân. Michael Dower (1999) đã đưa ra 4 mức độ đối với khía cạnh thứ nhất: (1) Chính phù kiểm soát mọi việc. Người din không có quyết định nào về nguồn nước thượng lưu cổng lấy nước của họ: (2) Chính phủ chỉ phổi còn người dân giúp đỡ: (3) Người dân chiếm un thé, chính phủ tạo diều kiện; (4) Người din kiểm soát mọi việc.
Vẻ mức độ tham gia có thé có các mức độ như: (1) Không. tham gia: (2) chia sẻ thông tin: Người din được thông báo vé các quyết định quản lý: (3) Tư vẫn: Người dân được hỏi ý kiến trước khi quyết định được tiến hành: (4) Chia sé việc ra quyết định: Người dân có một số kiém soát quản lý trực tiếp; (5) Hoàn toàn quyết định: Người dan là người quản lý. "Một ong những mô hình PIM hiệu quả cao có thể kể đến mô hình LID của Nhật Bản. Xô hình quan lý thủy nông Nhật bn rt nổi tếng trên thé giới bởi tính ben vũng và hiệu quả của nó.
Mô hình này đã được áp dụng thành công ở một số nước châu á như: Đài loan và Triều tiên, là các nước có điều kiện tự nhiên và nền văn hoá xã hội giống với Nhật bản. Ngày nay, tổ chức quan lý hệ thống thủy nông và cải tạo đất chủ lật bản là hội cải tạo đất (LID). Mỗi hệ thống thủy nông có một LID để quản ý vận hành hệ thống và xúc tiến các hoạt động cải tạo đất và bảo vệ môi trường. Tính đến năm 1994, trên toàn Nhật bản có 7891 LID và 101 liên hiệp các LID.
Trong đó 73 *% các LID quản lý các hệ thống có diện tích nhỏ hơn 300 ha, chỉ có 9% các LID quản lý các hệ thống có diện tích lớn hơn 1000 ha (Tran Chí Trung, Phạm Đỉnh Kiên, 2010). Thành viên của LID là toàn bộ nông dân canh tác đắt dai trên phạm vi hệ thông. “Tổ chức quyền lực cao nhất của LID là đại hội đại bu. Các đại biểu do toàn bộ thành viên của LID bầu ra theo nguyên tắc mỗi thành viên một phiếu và thời hạn đại biểu.
một khoá là 4 năm. Cơ quan điều hành là ban giám đốc và ban thanh tra do hội đồng đại biểu biu ra. Các giám đốc lựa chọn ra chủ ich là người đại diện hoàn toàn cho tap thể LID và điền hành công việc dựa trên các quyết định của ban giám đốc. Hoạt động của LID do các bộ phận chuyên ngành đảm nhiệm, mỗi bộ phận do một hoặc ài giám đốc điều hành.
LID là một t6 chức tự trị về tải chính cũng như vẻ điều hành phân phối nước. Hội viên bn bạc, đi hành, kiém tr, kiểm soát hoạt động tà chính, phần phối nước thông qua đại biểu của mình Chuyển giao quản lý thủy nông ([MT-Imigation Management Tranfer) là hoạt động trong tâm của chương trình khuyến khích nông dân tham gia quản lý công tình thủy lợi (PIM), đó là một quá trình thay đôi trong đó một số chức năng quản lý, vận hành. hoặc duy tu bảo dưỡng trước kia do cơ quan nhà nước thực hiện nay chuyển giao cho fe tổ chức sử đụng bệ thing tưới. Theo tiến tình IMT, vai tr chỉ phối của chính phủ trong việc quản lý vận hành công tình thuỷ lợi ngày cing giảm và vai trồ của người dang nước trong việc quyết định các hoạt động quản lý các công trình thuỷ lợi ngày cảng được khuyến khích.
Mức độ chuyển giao có thể khác nhau, bao gồm? i) Chuyển sino quyền ra quyết định hoặc quyền quản lý: i) Chuyển giao quyén sử dụng và khái thác cơ sở hạ ting; iii) Chuyển giao quyền sở hữu cơ sở hạ ting hoặc chỉ chuyển giao trách nhiệm phân phối nước, bảo đưỡng hệ thống kênh mương, thu và trả phí địch vụ thuỷ nông còn việc phê duyệt kế hoạch vận hành bảo dưỡng và kế hoạch tài chính vẫn là trách nhiệm của cơ quan nhà nước. Hiện nay, mô hình quản lý tưới có sự tham gia được biết đến nhiễu trên dl giới là mô Hình Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ, Ở Mexico, íc hệ thống thuỷ nông xuống cấp nghiêm ‘rong do thiếu kinh phí hoạt động. Nhà nước Mexico tiến hành cải tổ trong ngành thuỷ lợi bằng cách thành lập tỷ ban thuỷ lợi quốc gia với nhiệm vụ chuyển giao quản lý các hệ thống thuỷ nông cho các hiệp hội sử dụng nước được thành lập cho mục dich quản ý này. Năm 1990, Mexico chuyển giao hệ thông thuỷ nông đầu tiên cho hội người dùng nước và đến năm 1995, hơn 2/3 diện tích tưới do 80 hệ thông thuỷ nông phục vụ được chuyển giao cho các hội ding nước.
Tiêu chí quan trọng nhất để lựa chọn các hệ thống thuỷ nông để chuyỂn giao quản lý là khả năng của hội ding nước có thé trở nên tự chủ về tài chính, người dùng nước có thé trang trải được chỉ phí quản lý vận hành và hành chính. Ở Thổ nhĩ Kỳ vào năm 1993, một phần để hưởng ứng phong trào chuyển giao ở Mexico, phần khác được thúc dy bởi sứ mệnh cải cách tổ chúc cục thuỷ lợi một cách hiệu quả hơn, chương trình chuyển giao quản lý thuỷ nông được bình thành. Trong chương trinh này, Cục thuỷ lợi ích cực khuyến khích nông dân thành lập các tổ chức dùng nước nhận nhiệm vụ quản lý các hệ thống của nhà nước. Các tổ chức đùng nước ấy nước từ đầu mỗi hoặc kênh nhánh, trong các hệ thống lớn, do nhà nước quản lý và tự mình quản lý từ hạ ưu điểm phân phối nước này.
Họ không phải trả thuỷ lợi phí cho nhà nước, ngoài ra còn được nhận hỗ tg về kỹ thật và ti chính trong quản lý "kênh cấp bai Nhidu nước ở Châu A cũng thực hiện chuyển giao quản lý ưới cho các ổ chức ding nước, trong đó phải kể đến kinh nghiệm Trung Quốc là nước có hệ thống tổ chức quản lý tưới gin tương đồng với Việt Nam. Theo Báo cáo tại Hội thio quốc tế Lin thứ 6 về PIM tại Bắc Kinh ~ Trung Quốc trong giai đoạn 1996-2000, nhiễu nghiên cứu và thử nghi vé cải cách thé ct A cái cách quản lý các hệ thing thủy ning mặt ruộng trong các khu vực khác nhau trên cả nước đã được thực hiện. Cúc nghiên cứu tập trưng vào: (1) Thành lập các tỏ chức dịch vụ tưới (WSC-Water Service Company); (2) Tăng. phi nước và kim cho giá nước dẫn din gin với các chỉ phí của việc cung cấp nước, thu tiền nước theo khối lượng sử dụng; (3) Chuyển trách nhiệm điều hành sang các hình thức ký kết hợp đồng, cho thuế, cũng tham gia, đấu thằu, chu hút nông dân tham gia quản lý thông qua vige thành lập các tổ chức cộng đồng với quy mô phù hợp như: mô.
Hình khu thủy lợi tự quản (SID), mô hình tổ chức cung cắp nước (WSO), mô hình công ty cung cắp nước (WSC), hội người ding nước (WUA) hoặc nhỏm ding nước (wus), G Philippines, nền tảng của chương trình chuyển giao quản lý thuỷ nông là sự phục hồi của vai td truyền thống của nông dẫn trong việc xây dựng các công tình thuỷ lợi phổi hợp với cơ quan thuỷ lợi quốc gia trong việc trợ giúp kỹ thuật cho người nông dân vào giữa những năm 1970.