CHƯƠNG 1: TONG QUAN CÁC NGHIÊN COU DANH GIÁ BIEN DONG NGUON NƯỚC VA CÁC TÁC DONG LIEN QUAN 1. Nguồn nước và biển động nguồn nước. Tổng quan trên thé giới Ne in nước trên bề mặt Trái Đắt khoảng chừng 1454.106km", chiếm 71% bề mat trấ đất chừng 71%. Hiu hết à nước mặn (chiếm hơn 97% tổng lượng nước gm nước đại dương, biển, hỗ nước mặn, một phần nước ngằm).
Phin nước ngọt (bao gém cả một phin nước ngẫm và cả hơi nước) chỉ không đến 3%, trong đỏ đã gin 77% là đóng băng ở miễn cực và trong băng bà, mà khoảng 90% khỗi lượng băng lại ở Nam Cục, còn phần lớn tập trung ở băng đảo Greenland. Cuối cùng chỉ còn một phần rat nhỏ.7% tổng lượng nước, tức khoảng 215.200 km có vai trồ quan trọng bao tồn sự sống trên toàn bành tinh, Số nước ngọt này đại bộ phận thuộc vé các hỗ nước ngọt, ngoài ra là các đồng chảy trong sông, suối và khí âm, hơi nước trong đất, trong khí quyển Trong qué tinh twin hoàn của nước, mỗi năm mặt biển bốc hơi chime 449,000 km), lục địa khoảng 71. Hơi nước từ biển theo gió vào lục địa hàng năm gây mưa khoảng 108. Như vậy dong chảy mặt và dòng chảy ngầm hang năm chảy từ lục địa ra biển khoảng 37.
So với tổng lượng nước chung trên Trái Dit thi lượng nước này không đáng kể, nhưng né lại cổ ý nghĩa vô cũng quan trọng đối với đời sống con người và các sinh vật sông trên lục địa. Đó là nguồn nước sử dụng của con người [1] Nguồn nước sử dụng của con người phân bổ không đều theo cả Không gian và thời gian. Theo không gian, do ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, mặt đệm từng nơi mà lượng mưa có thé rất khác nhau. Nơi mưa nhiều lượng mưa hing năm có thể mắy ngàn mem, nơi mưa ít chỉ vải trăm mm, thậm chí Không mus, Thí dụ lượng mưa năm trăng bình tại Haoai12.092 mm, Rê-uy-ni-ông 12.470 mm vài một số vùng xích đạo là những nơi mưa nhiều Bốc hoi bình quân năm trên các đại dương 930 đến 1.070 mm, trên lục dia từ 420 đến S00 mm.
Như vậy, trên dai dương, lượng bốc hơi hing năm lớn hơn lượng nước đến 100 mm, còn trên lục địa, lượng mưa lớn hơn lượng bốc hơi đến 250 mm. Lượng nước thừa trên lục địa chính là lượng dng chảy trên các dòng subi chảy ra đại dương, Do mưa phân bồ không đều ma lượng dòng chảy trên các sông suối cũng phân bố không đều. Trong 1445, 10°km? lục dia, có 6.10° ka toàn toàn không có dong chảy. Một ít ao hồ ở những vùng đó chủ yếu là do nước ngầm cung cấp nên nước.
tương đối mặn. Vang dong chảy rit nghèo chiếm khoảng 32 triệu km’, trong đó châu Âu và châu A 18 triệu km”, châu Phí 9 triệu km”, châu Úc 4 triệu km’, còn lại là một số vùng châu Nam. Vùng có dòng chảy rất phong phú thuộc lưu vực của 21 con sông từ 10 van km” <dén 1 triệu km’ chiếm khoảng 28,4 triệu km’ "rang bình hing năm sông, subi đỗ ra biển trên 15. Khoảng 20% lượng nước nói tên thuộc về sông Amazon có chiều dũi 7025 km với diện tích lưu vực khoảng 7.
Bên cạnh đó còn có một số con sông khác trên thé giới như sông Nil với chiều dai 6.671km, sông Mississipi có chiéu dai 6. nước ngọt quan trọng được dự trừ trong các hỗ lớn như hd Viktoriino ở Châu Phi diện tích 68 800 km’, độ sâu lớn nhất là 125m, hồ Tanganjka ở Châu Phi với diện tích: 32.880km”, độ sâu lớn nhất 1.470 m, ho Baikal Châu A có diện tích 31.500 km*, độ sâu lớn nhất 1. Hồ Baikal dự trữ khoảng 1/10 lượng nước ngọt trên cả bị nh tỉnh với trữ lượng 23 tỷ mỶ nước. “Theo thời gian, sự phân bé không đồng đều thé hiện đặc tính biển đổi theo mùa của mưa và dong chảy, đó là mùa mưa và mia khô; hay mùa lũ vả mùa kiệt.
Mùa mưa, lũ cũng là mùa nước hay gây ting. Mùa khô, kiệt cũng là mùa thiếu nước cho con người. Mức độ phát triển kinh tế không đều trên thể giới khiến cho nhủ edu sử dụng nước cũng không giống nhau giữa các nước, các khu vực. Vấn đề thừa nước, thiểu nước trở thành vấn dé quan trọng đối với sự phát triển của loài người hiện tại và tương lai.
Nguồn nước ở Việt Nam “Chế độ nước của Việt Nam có những nét riêng của vùng nhiệt đổi ẩm, gió mùa với lượng mưa phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành dòng chảy với mang tới sông khá diy đặc. Nếu chỉ tinh những sông suéi có chiều dài từ 10 km trở lên và có nước chảy thường xuyên thì trên lãnh thé nước ta có khoảng 2360 sông suối với mật độ trung bình khoảng 0,6 km/km”. Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện về cầu trúc địa chất, địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng và khí hậu mà mạng lưới ng suối phát triển không. u trên lãnh thi từ 03 kh/kmẺ ở vùng khô han đến 4 km/kemẺ ở ving đồng, bằng sông Hang - Thái Binh va đồng bing sông Cửu Long.
Ở vùng núi cao, địa hình chia cắt mạnh, mưa nhiéu mạng lưới sông suỗi khá phát triển với mật độ 1-2 knikmÈ “Trên phin lớn lãnh thổ còn lại có mật độ sông suối khoảng 0,5 -1 km/km. Cứ đi dọc ba biển khoảng 20 km lại gặp một cửa sông. Tổng lượng đồng chảy của tắt cả các con xông chảy qua lãnh thổ Việt Nam là 853 km’. Tỉ trọng nước bên ngoài chảy vào nước.
ta tương đối lớn, chiếm 60% so với tổng lượng nước sông toàn quốc, riêng đối với sông Cửu Long là90%: Mang lưới sông suối ở Việt Nam phát trim không đồng đều trên toàn lãnh thủ. Mang lưới sông suối là nơi bình thành, chuyên chữ và tầng wit nguồn nước sông - một phần quan trọng nhất của tải nguyên nước - à nguồn cung cấp chính cho sinh hoạt và sin xuất tạo điều kiện thuận lợi cho thuỷ điện, giao thông thuỷ, nud ted g tuỷ sản. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu tên, mạng lưới sông suối phát tiễn không đều có thé gây ra những khó khăn, nhu mạng lưới sông subi ở các vùng khô hạn thường xây ra hạn bán. HE thống sông ngồi của nước ta được nuôi dưỡng bởi nguồn nước mưa tương đối dỗi dao.
Lượng mưa trung bình nhiều năm cỏ thé đạt xắp xi 1960 mm tức khoảng 650 km năm. Miễn núi mưa nhiều hơn đồ ig bằng và các vùng khuất gió. Sự chênh lệch giữa vùng có lượng mưa lớn và vùng có lượng mưa nhỏ khoảng 5-6 lẫn. Trong khi đó rên thể giới mức chênh lệch này có nước In tới 4-40 lẫn.
Sự phân bổ ti nguyên nước có liên quan chặt chẽ với sự phân bổ lượng mưa. Ving mưa lớn có đồng chiy xông lớn, vùng mưa nhỏ có đồng chảy sông nhỏ xen kế nhau, Vùng có đồng chy lớn đạt trên 100 Vstkm” và ving có đồng chảy nhỏ 5 /s/km” chênh lệch nhau 20 lần. Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Công bing khoảng $00 km’, chiếm tới 59 % tổng lượng ding chảy năm của các sông tong cả nước; sau đó đến hệ thing sông Hồng 126,5 km’ (14,9%); hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km’ (4,3%), sông Mã, Cả, ‘Thu Bồ só tổng lượng ding chảy xắp xi nhau, khoảng trên đưới 20 km’ (2.3 - 26): sắc hệ thing sông Kỷ Cùng, Thái Bình và sông Ba cũng xắp xỉ nhau, khoảng 9 km (1%); các sông còn lại là 94,5 km? (11,1%) [1] Nước ta có trữ lượng nước ngẫm phong phú, khoảng 130 triệu m`/ngảy, đáp ứng được (60% nhu cầu nước ngọt của đất nước. Ở vùng đông bằng châu thổ, nước ngằm ở độ sâu từ 1 - 200 m, ở mién núi nước ngằm thường ở độ.
sâu 10 - 150 m, còn ở vùng núi đá vôi nước ngằm ở độ sâu khoảng 100m. Đặc biệt ving Tây Nguyên, nước ngằm. thường sâu vài trim mét, còn ở một số nơi thuộc đồng bằng sông Cửu Long như: Hà Tiên, Cà Mau, Bến Tre, v.nước ngầm thường bị nhiễm mặn, dẫn đến tình trạng ‘Theo báo cáo của "Chương trình Bảo vệ mai trường quốc gia” thi tài nguyên nước Việt Nam bao gồm nước mặt, nước dưới đắt và nước bi + Tổng lượng nước mặt trung bình năm của Việt Nam khoảng 830 tỉ mì được tập trung chủ yếu trên 8 LVS lớn, bao gồm: LVS Hồng - Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Ma, Ca, Vụ Gia - Thu Bon, Ba, Đồng Nai và sông Mê Công (Cửu Long). Tuy nhiên, khoảng 63% nguồn nước mặt của Việt Nam (tương ứng với 520 tỷ mẺ) có nguồn gốc ở ngoài ranh giới quốc gia, chi có gin 310 tim’ mỗi năm được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam.
1g lượng nước đang được khai thác, sử dụng hàng năm khoảng 80,6 tỷ m* cho các nông nghiệp, sản xuất năng lượng. sinh hoạt, nôi trồng thu sản và hoạt động sản xuất công nghiệp, du lịch, dich vụ. Tuy nhiên, khai thác, sử dụng tài nguyên nước. cchưa hợp lý và thiểu bền vững đã và đang gây suy giảm tài nguyên nước.
+ Ước tính tữ lượng nước đưới đắt trong các thành tạo chứa nước chính ở Việt Nam khoảng 172,6 triệu m!/ngày. Tổng lượng khai thác nước dưới đất khoảng 10,53 triệu m /ngùy, tong đó đồng bằng Bắc Bộ và đồng bing Nam Bộ là hai khu vực khai thác nhiều nhất với tổng lượng khá thác của 2 vùng kh, ng 5,87 triệu mÙ/ngà chiếm 55,7% tổng lượng khai thie toàn quốc. Lượng nước khai thác tập trung ở 2 thành phổ lớn là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh với tổng lượng nước khai thie khoảng 2.63 triệu mẺ/ngày chiếm sần 25% tổng lưu lượng khai thác toàn quốc.
Trong mấy thập ky qua, dưới tá động cia cdc yêu ổ tự nhiên và con người, nước dưới đắt có sự biển động khá mạnh mẽ. Do khai thác sử dụng một cách chưa hợp lý, tài nguyên nước dưới dit đang có chiều hướng suy giảm về trữ lượng với mực nước xuống thấp Điễn hình là vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng Nam Bộ. mực nước ting chứa nước Pleistocene có xu hướng giám dẫn tại một số vùng có hoạt động khai thác nước mạnh. + Chất lượng nước biển ven bờ ở Việt Nam còn khá tốt với hầu hết giá trị các thông số đặc trưng nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 10-MT:2015/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Mỗi trường.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ khu vực ca sông và sự iếp nhận chit thải của các hoạt động phát tiễn kinh tế ven biển, một số vùng biển có hàm lượng ‘TSS (tổng lượng chit rắn lơ lửng) cao.