Luận án tiến sĩ: Dòng chảy tối thiểu vùng hạ du sông Mã - Lương Ngọc Chung

Nghiên cứu xác định dòng chảy tối thiểu hạ du sông Mã. Phân tích khoa học các yếu tố ảnh hưởng và phương pháp quản lý tài nguyên nước.

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Chuyên ngành

Tài nguyên nước

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kỹ thuật

2019

172
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu dòng chảy tối thiểu hạ du sông Mã

Sông Mã là một trong những lưu vực sông lớn tại Việt Nam, chảy qua nhiều tỉnh thành và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội vùng Bắc Trung Bộ. Nghiên cứu xác định dòng chảy tối thiểu nhằm mục tiêu quản lý bền vững tài nguyên nước đã trở thành vấn đề cấp thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng áp lực khai thác. Luận án tiến sĩ của Lương Ngọc Chung tại Trường Đại học Thủy Lợi năm 2019 đã hệ thống hóa các phương pháp tính toán dòng chảy môi trường, áp dụng cho vùng hạ du sông Mã. Nghiên cứu tập trung vào việc xác định lưu lượng tối thiểu cần duy trì để đảm bảo chức năng sinh thái của dòng sông. Các phương pháp được áp dụng bao gồm phương pháp Tennant, phương pháp ngưỡng thời gian và tần suất thống kê dòng chảy thấp. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông Mã một cách bền vững.

1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm lưu vực sông Mã

Lưu vực sông Mã nằm ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, trải dài qua các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa và một phần Nghệ An. Sông Mã có tổng chiều dài khoảng 512 km với diện tích lưu vực hơn 28.400 km². Vùng hạ du sông Mã tập trung tại tỉnh Thanh Hóa, nơi diễn ra các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và nuôi trồng thủy sản quy mô lớn. Địa hình hạ du tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho phát triển kinh tế nhưng cũng tạo áp lực lớn lên tài nguyên nước. Chế độ thủy văn sông Mã chịu ảnh hưởng rõ rệt của mùa mưa và mùa khô, với lưu lượng biến thiên lớn giữa các mùa.

1.2. Mục đích và ý nghĩa của luận án nghiên cứu

Luận án của Lương Ngọc Chung nhằm xác định dòng chảy tối thiểu cần duy trì trên sông Mã để bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh và phục vụ quản lý bền vững tài nguyên nước. Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, cung cấp dữ liệu đầu vào cho quy hoạch tổng thể khai thác sử dụng nước lưu vực. Kết quả giúp các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra quyết định chính xác về phân bổ nguồn nước giữa các đối tượng sử dụng. Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá tác động của các nhà máy thủy điện thượng nguồn đến chế độ dòng chảy hạ du sông Mã.

II. Phân tích các vấn đề và thách thức tài nguyên nước sông Mã

Tài nguyên nước vùng hạ du sông Mã đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Hoạt động khai thác thủy sản bằng phương pháp hủy diệt như đánh mìn, kích điện, sử dụng hóa chất đã làm suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi cá tự nhiên. Các nhà máy thủy điện xây dựng trên thượng nguồn gây thay đổi chế độ thủy văn, suy giảm dòng chảy bùn cát và ảnh hưởng đến đường di cư, bãi đẻ của các loài cá bản địa. Nguồn nước thải từ các cơ sở công nghiệp, làng nghề tại các thị trấn ven sông không qua xử lý xả trực tiếp ra sông, làm ô nhiễm môi trường nước. Tình hình khai thác và sử dụng nước cho nông nghiệp, sinh hoạt, công nghiệp ngày càng gia tăng tạo áp lực lớn lên tài nguyên nước. Biến đổi khí hậu làm trầm trọng thêm tình trạng hạn hán, thiếu nước vào mùa khô. Quản lý tài nguyên nước thiếu cơ sở dữ liệu khoa học về dòng chảy tối thiểu là nguyên nhân chính dẫn đến xung đột giữa các đối tượng sử dụng nước.

2.1. Tác động của thủy điện đến dòng chảy hạ du sông Mã

Hệ thống các nhà máy thủy điện trên lưu vực sông Mã đã tác động mạnh mẽ đến chế độ dòng chảy hạ du. Việc vận hành các hồ chứa làm thay đổi biên độ dao động lưu lượng tự nhiên giữa mùa lũ và mùa cạn. Dòng chảy bùn cát bị giữ lại phía thượng nguồn gây hiện tượng rửa trôi và xói mòn lòng sông hạ du. Thủy điện cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến mùa vụ sinh sản, đặc biệt là đường di cư và bãi đẻ trứng của các loài cá đặc hữu. Diện tích đất, rừng tự nhiên bị ngập do hồ chứa làm thu hẹp và thay đổi điều kiện sống của sinh vật thủy sinh.

2.2. Ô nhiễm nguồn nước và suy thoái hệ sinh thái

Hoạt động công nghiệp, dịch vụ tập trung tại các đô thị ven sông Mã là nguồn gây ô nhiễm chính. Các cơ sở chế tạo cơ khí, dệt may, khai thác khoáng sản xả nước thải chưa qua xử lý ra sông. Nông nghiệp sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm nguồn nước mặt. Hoạt động khai thác cát sỏi quá mức làm biến đổi địa hình lòng sông, ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài thủy sinh. Kết hợp với biến đổi khí hậu, hệ sinh thái sông Mã đang trong tình trạng suy thoái, đòi hỏi giải pháp quản lý tổng thể dựa trên cơ sở khoa học.

III. Phương pháp xác định dòng chảy tối thiểu sông Mã

Luận án áp dụng nhiều phương pháp thủy văn để xác định dòng chảy tối thiểu trên sông Mã. Phương pháp Tennant là phương pháp phổ biến, dựa trên tỷ lệ phần trăm dòng chảy trung bình nhiều năm để tính dòng chảy môi trường theo các mức chất lượng khác nhau từ tuyệt đối đến suy thoái nặng. Phương pháp ngưỡng thời gian và tần suất thống kê dòng chảy thấp sử dụng dữ liệu quan trắc hơn 20 năm để xác định khoảng thời gian dòng chảy duy trì ở mức lưu lượng nhất định. Các ngưỡng dòng chảy được hiệu chỉnh từ dữ liệu thực tế theo quan điểm chuyên gia. Phương pháp IHA (Indicators of Hydrologic Alteration) đánh giá sự thay đổi thủy học do tác động nhân tạo. Phương pháp xây dựng đường cong dòng chảy sinh thái xác định lưu lượng cần thiết cho từng mùa trong năm. Các phương pháp được áp dụng và so sánh để lựa chọn kết quả tối ưu cho điều kiện cụ thể của hạ du sông Mã.

3.1. Phương pháp Tennant và bảng tỷ lệ phần trăm

Phương pháp Tennant xác định dòng chảy môi trường dựa trên tỷ lệ phần trăm của dòng chảy trung bình nhiều năm tại tuyến tính toán. Theo phương pháp này, môi trường sông ở mức tuyệt đối cần 40% Qo mùa xuân-hạ và 60% Qo mùa thu-đông. Mức rất tốt tương ứng 30% và 50%, mức tốt là 20% và 40%. Mức trung bình hoặc suy giảm cần 10% Qo mùa xuân-hạ và 30% Qo mùa thu-đông. Mức kém hoặc tối thiểu chỉ cần 10% Qo cả hai mùa. Ưu điểm của phương pháp Tennant là đơn giản, dễ áp dụng và có tính thực tiễn cao cho quản lý tài nguyên nước.

3.2. Phương pháp ngưỡng thời gian và thống kê dòng chảy thấp

Phương pháp ngưỡng thời gian xác định khoảng thời gian dòng chảy duy trì ở mức lưu lượng nhất định dựa trên dữ liệu nhiều năm, tối thiểu 20 năm quan trắc. Ngưỡng dòng chảy được hiệu chỉnh từ dữ liệu thực tế để mô tả mức lưu lượng hỗ trợ tính toàn vẹn hệ sinh thái thủy sinh. Các chỉ số dựa trên ngưỡng thời gian bao gồm Q90, Q95 thể hiện dòng chảy có tần suất vượt 90% hoặc 95% thời gian. Phương pháp này phù hợp với điều kiện lưu vực có dữ liệu quan trắc dài hạn và cho kết quả tin cậy cao cho quy hoạch tài nguyên nước.

IV. Kết luận và ứng dụng quản lý bền vững tài nguyên nước

Nghiên cứu xác định dòng chảy tối thiểu vùng hạ du sông Mã đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Giá trị dòng chảy tối thiểu được xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau, đảm bảo tính khoa học và khả thi trong thực tiễn quản lý. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu đầu vào cho quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông Mã. Dòng chảy tối thiểu được khuyến nghị áp dụng cho các hoạt động vận hành hồ chứa thủy điện, cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp và duy trì hệ sinh thái. Nghiên cứu cũng đề xuất cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong lưu vực để quản lý tài nguyên nước hiệu quả. Ứng dụng kết quả vào thực tiễn giúp giảm thiểu xung đột giữa các đối tượng sử dụng nước, bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh và phát triển kinh tế bền vững. Đây là tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách tài nguyên nước.

4.1. Giá trị dòng chảy tối thiểu khuyến nghị cho sông Mã

Dựa trên kết quả tổng hợp từ nhiều phương pháp, giá trị dòng chảy tối thiểu khuyến nghị cho hạ du sông Mã được xác định theo từng mùa. Mùa xuân-hạ, dòng chảy tối thiểu chiếm khoảng 20-30% lưu lượng trung bình nhiều năm để đảm bảo duy trì hệ sinh thái ở mức tốt. Mùa thu-đông, tỷ lệ này cần đạt 30-50% Qo do đây là mùa sinh sản quan trọng của nhiều loài cá. Giá trị cụ thể tại các trạm tính toán khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm địa hình, thủy văn và nhu cầu sử dụng nước hạ du. Các giá trị này cần được cập nhật định kỳ theo dữ liệu quan trắc mới.

4.2. Ứng dụng trong quy hoạch và chính sách tài nguyên nước

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trực tiếp trong quy hoạch tổng thể khai thác sử dụng nước lưu vực sông Mã. Dòng chảy tối thiểu là tiêu chí bắt buộc khi cấp phép vận hành hồ chứa thủy điện và đánh giá tác động môi trường. Cơ quan quản lý sử dụng dữ liệu này để xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa, đảm bảo dòng chảy hạ du không thấp hơn ngưỡng tối thiểu. Chính sách phân bổ nguồn nước giữa các đối tượng sử dụng cần ưu tiên dòng chảy sinh thái. Nghiên cứu cũng đề xuất thành lập hệ thống giám sát dòng chảy thời gian thực phục vụ quản lý vận hành hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn nghiên cứu xác định dòng chảy tối thiểu nhằm quản lý bền vững tài nguyên nước vùng hạ du sông mã

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan về dòng chảy tối thiểu và các nghiên cứu có liên quan Chƣơng 2: Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu dòng chảy tối thiểu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị Tóm tắt nội dung từng chƣơng: Chƣơng 1: Xác định các vấn đề cần nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu về dòng chảy tối thiểu, dòng chảy môi trƣờng trên thế giới và Việt Nam. Xác định, đề xuất đƣợc hƣớng nghiên cứu, cách tiếp cận dòng chảy tối thiểu, trên cơ sở phân tích điểm mạnh, điểm yếu của từng phƣơng pháp. Nêu đƣợc tổng quan về lƣu vực sông Mã và vùng hạ du sông Mã là đối tƣợng nghiên cứu của Luận án.

Chƣơng 2: Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá tác động của điều kiện tự nhiên, phát triển 4 kinh tế - xã hội đến chế độ dòng chảy ở hạ du sông Mã, trong đó xác định đƣợc nguyên nhân chính gây ra hạ thấp mực nƣớc ở hạ du là do lòng dẫn sông Mã. Nghiên cứu, xây dựng đƣợc phƣơng pháp phù hợp xác định dòng chảy tối thiểu cho vùng hạ du sông Mã. Phân tích kết quả khảo sát và lựa chọn đƣợc 5 loài cá làm loài chỉ thị cho hệ sinh thái vùng hạ du sông Mã, làm cơ sở xác định dòng chảy tối thiểu. Thiết lập mô hình thủy lực, sinh thái trong mùa cạn cho lƣu vực sông Mã.

Chƣơng 3: Trình bày kết quả nghiên cứu dòng chảy tối thiểu ở hạ du sông Mã trên cơ sở xác định dòng chảy các thành phần (dòng chảy sinh thái, dòng chảy giao thông thủy, dòng chảy cho nhu cầu nƣớc của các ngành kinh tế - xã hội). Phân tích sự phù hợp của dòng chảy tối thiểu của các đoạn sông và đề xuất các giải pháp duy trì dòng chảy tối thiểu vùng hạ du sông Mã. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DÒNG CHẢY TỐI THIỂU VÀ LƢU VỰC SÔNG MÃ 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu dòng chảy tối thiểu, dòng chảy môi trƣờng ở các lƣu vực sông 1.1 Khái niệm về dòng chảy tối thiểu, dòng chảy môi trường - Khái niệm “dòng chảy tối thiểu” mới đƣợc đề cập và ứng dụng ở Việt Nam trong những năm gần đây. Lần đầu tiên khái niệm và các ứng dụng dòng chảy tối thiểu đƣợc đề cập trong văn bản pháp lý tại Nghị định số 112/2008/NĐ-CP ngày 20/10/2008 của Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trƣờng các hồ chứa thủy điện, thủy lợi; Tiếp theo đó là ở Nghị định số 120/2008/NĐ-CP ngày 1/12/2008 của Chính phủ về việc quản lý lƣu vực sông.

Theo các Nghị định này "dòng chảy tối thiểu là dòng chảy ở mức thấp nhất cần thiết để duy trì dòng sông hoặc đoạn sông, bảo đảm sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thủy sinh và bảo đảm mức tối thiểu cho hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước của các đối tượng sử dụng nước theo thứ tự ưu tiên đã được xác định trong quy hoạch lưu vực sông”. Trong Luật Tài nguyên Nƣớc sửa đổi năm 2012, đảm bảo “dòng chảy tối thiểu” đƣợc đề cập nhƣ quy định về nguyên tắc để quản lý, bảo vệ, điều hòa, phân phối, giám sát hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên nƣớc nhằm phòng, chống và khắc phục hậu quả, tác hại do nƣớc gây ra. Thực tế hiện nay, nhiều dòng sông trên thế giới và ở Việt Nam dòng chảy đã bị thay đổi nhiều do quá trình khai thác, sử dụng nguồn nƣớc để phục vụ cho các nhu cầu nƣớc của con ngƣời. Sự thay đổi đó đã tác động mạnh đến chế độ dòng chảy cũng nhƣ chất lƣợng nƣớc của các con sông, gây ảnh hƣởng tiêu cực đến khả năng duy trì các hệ sinh thái thủy sinh của dòng sông.

Việc duy trì trên sông một chế độ dòng chảy đảm bảo hài hòa giữa nhu cầu sử dụng nƣớc và môi trƣờng sinh thái đang là xu thế đƣợc hƣớng tới trong phát triển bền vững tài nguyên nƣớc trên thế giới [1]. - Khái niệm “dòng chảy môi trường” xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ 20 ở các nƣớc phát triển ở Châu Âu và Mỹ để đáp ứng cho các nghiên cứu về sự tăng trƣởng nhanh chóng của cơ sở hạ tầng tài nguyên nƣớc cùng các tác động mạnh mẽ tới đa dạng sinh 6 học của quá trình chỉnh trị sông và điều tiết dòng chảy. Ở Việt Nam “dòng chảy môi trường” là một khái niệm còn tƣơng đối mới. Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) [7]: “Dòng chảy môi trường là lƣu lƣợng của dòng chảy cần thiết để duy trì thành phần, chức năng, quy trình và khả năng phục hồi các hệ sinh thái thủy sinh và các hàng hóa, dịch vụ mà các hệ sinh thái đó cung cấp cho con ngƣời”.

Theo Ngân hàng thế giới [8]: “Dòng chảy môi trường có thể đƣợc mô tả nhƣ là chất lƣợng, lƣu lƣợng của dòng chảy cần thiết để duy trì các thành phần, chức năng, quy trình và khả năng phục hồi các hệ sinh thái thủy sản cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho con ngƣời”. Theo tổ chức các dòng sông quốc tế [9]: “Dòng chảy môi trường là một hệ thống để quản lý lƣu lƣợng và chất lƣợng của nƣớc chảy bên dƣới một con đập, với mục tiêu duy trì các hệ sinh thái nƣớc ngọt và hệ sinh thái vùng cửa sông và sinh kế của con ngƣời phụ thuộc vào chúng”. Theo tổ chức mạng lƣới dòng chảy môi trƣờng toàn cầu [10]: “Dòng chảy môi trường là lƣợng dòng chảy trong sông, đầm lầy hoặc vùng ven biển để duy trì các hệ sinh thái và những lợi ích mà chúng cung cấp cho con ngƣời”. Theo Dyson, Bergkamp, and Scanlon, 2008 [11]: “Dòng chảy môi trường là chế độ nƣớc đƣợc cung cấp trong một dòng sông, vùng đất ngập nƣớc hoặc vùng ven bờ để duy trì các hệ sinh thái và những lợi ích của chúng ở những nơi dòng chảy bị điều tiết và có sự cạnh tranh trong sử dụng nƣớc.

Dòng chảy môi trƣờng góp phần quan trọng đối với sức khỏe của dòng sông, sự phát triển kinh tế và giảm đói nghèo. Dòng chảy môi trƣờng đảm bảo tính sẵn có liên tục của nhiều lợi ích mà dòng sông khỏe mạnh và các hệ thống nƣớc dƣới đất mang lại cho xã hội”. Nhìn chung, những định nghĩa về “dòng chảy môi trường” khá tƣơng đồng, tất cả đều nhấn mạnh đến việc duy trì các hệ sinh thái. Tuy nhiên, trong các định nghĩa về dòng chảy môi trƣờng chƣa có thành phần dòng chảy để cung cấp cho các nhu cầu sử dụng nƣớc phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.

Xét tổng thể “dòng chảy tối thiểu” tổng quát và đầy đủ hơn về các đối tƣợng sử dụng 7 nƣớc, và có thể coi “dòng chảy tối thiểu” bao gồm “dòng chảy môi trường” và dòng chảy cho nhu cầu nƣớc tối thiểu của các đối tƣợng sử dụng nƣớc. Trong khuôn khổ của Luận án này sẽ nghiên cứu “dòng chảy tối thiểu” gồm 2 thành phần: (1) Dòng chảy cho môi trường sinh thái và (2) dòng chảy cho nhu cầu nước tối thiểu.2 Vai trò của dòng chảy tối thiểu Nhƣ đã phân tích ở trên, DCMT đƣợc coi là một phần của DCTT. Vì vậy, vai trò của DCMT cũng là vai trò của DCTT, nó có vai trò quan trọng đối với sức khỏe của bất cứ dòng sông nào. Thiếu DCTT sẽ đặt sự tồn tại của các hệ sinh thái, con ngƣời và nền kinh tế trƣớc rủi ro [1].

Vai trò chủ yếu của DCTT [12] nhƣ sau: - Duy trì tính toàn vẹn, năng suất và các điều kiện cần thiết cho các hệ sinh thái phụ thuộc vào nƣớc ngọt trong sông, vùng đất ngập nƣớc, vùng cửa sông ven biển. - Đảm bảo triển vọng dài hạn cho các cộng đồng và sản xuất nông nghiệp dựa nhiều vào thể trạng sông. - Làm giảm độ mặn, hòa loãng ô nhiễm và tránh tù đọng nƣớc thƣờng xuyên. - Giúp bảo vệ đa dạng sinh học của hệ sinh thái sông cũng nhƣ duy trì các dòng sông luôn ở trạng thái khỏe mạnh.

Lợi ích của việc đảm bảo DCTT: Các HST thủy sinh trong sông ngòi, vùng đất ngập nƣớc, cửa sông và các hệ sinh thái ven biển cung cấp nhiều lợi ích khác nhau cho con ngƣời. Những lợi ích này bao gồm “hàng hóa” nhƣ nƣớc uống sạch, cá và các “dịch vụ” nhƣ làm sạch nƣớc, giảm nhẹ lũ lụt và các dịch vụ giải trí. Những dòng sông khỏe mạnh và các hệ sinh thái đi kèm còn mang những giá trị nội tại đối với con ngƣời, đó là những giá trị có ý nghĩa văn hóa, đặc biệt đối với các nền văn hóa bản địa. Giá trị nội tại này thƣờng bị bỏ qua và khó nhận biết về định lƣợng [1].1 Mối liên hệ giữa vai trò dòng chảy tối thiểu và chức năng hệ sinh thái [12] Đối tƣợng Giá trị Vai trò của DCTT Cá nƣớc ngọt là nguồn protein có giá trị cho Duy trì MT sống phù hợp; Động vật con ngƣời.

Các quần thể động vật có giá trị Để các loài cá di chuyển; dƣới nƣớc khác bao gồm: cá, chim nƣớc quý hoặc các Kiến tạo MT sinh sản cho các loài sinh vật nhỏ khác trong xích thức ăn cá 8 Đối tƣợng Giá trị Vai trò của DCTT Cung cấp thức ăn và củi đốt cho con ngƣời, - Duy trì độ ẩm của đất ở bờ sông; MT sống của động vật và là vùng đệm để - Vận chuyển chất dinh dƣỡng trên Thực vật sông ngòi chống lại việc mất chất dinh bờ và phát tán hạt giống ven sông dƣỡng và cặn từ các hoạt động dẫn nƣớc của con ngƣời Vận chuyển bùn cát và tách ra Cát ở sông Dùng để xây dựng thành các hạt mịn hơn Duy trì cân bằng muối ở mức độ Cửa sông Cung cấp địa điểm cho cá biển đẻ trứng thích hợp Nƣớc DC trong sông thƣờng xuyên duy trì nguồn Tái nạp lại nƣớc ngầm ngầm cung cấp nƣớc trong suốt mùa khô Vùng Hỗ trợ nghề cá và nông nghiệp ở vùng ngập Gây ngập đồng ruộng vào thời ngập lụt lụt cho nông dân điểm thích hợp trong năm Âm thanh của nƣớc chảy qua các khe đá, Các cấp lƣu lƣợng khác nhau để tối Thẩm mỹ mùi hƣơng và cảnh quan của dòng sông với đa hóa và đảm bảo các nét mỹ cây cối, chim muông và cá cảnh quan thiên nhiên Nƣớc sạch và thác ghềnh lý tƣởng cho việc Giải trí và Duy trì khả năng tự làm sạch và thả bè trên sông và các hồ nƣớc sạch là các văn hóa chất lƣợng nƣớc nơi tổ chức lễ hội văn hóa hay thể thao nƣớc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ