Giải pháp tăng cường quản lý hoạt động khai thác cát xây dựng trên địa bàn huyện Đông Triều

Phương pháp quản lý khai thác cát xây dựng hiệu quả tại huyện Đông Triều. Tìm hiểu các giải pháp bền vững, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình khai thác và chiến

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Chuyên ngành

Kỹ thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

197
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý hoạt động khai thác cát xây dựng huyện Đông Triều

Huyện Đông Triều thuộc tỉnh Quảng Ninh là địa phương có hệ thống sông ngòi phong phú, tiềm năng tài nguyên cát xây dựng lớn. Hoạt động khai thác cát tại đây diễn ra phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng hạ tầng, phát triển đô thị và các công trình dân dụng. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này còn nhiều bất cập. Tình trạng khai thác trái phép, vượt công suất giấy phép, gây sạt lở bờ sông, ảnh hưởng đời sống dân sinh vẫn tồn tại. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản đã có nhưng việc triển khai thực thi ở cấp huyện gặp nhiều khó khăn. Công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe. Nhu cầu cát xây dựng tăng cao trong khi nguồn cung từ mỏ hợp pháp hạn chế tạo áp lực lớn lên công tác quản lý. Bài toán đặt ra là cần có giải pháp đồng bộ để tăng cường hiệu quả quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường bền vững.

1.1. Khái niệm và vai trò của cát xây dựng

Cát xây dựng là khoáng sản tự nhiên thuộc nhóm vật liệu xây dựng thông thường. Cát được sử dụng rộng rãi trong sản xuất bê tông, vữa xây trát, san lấp mặt bằng và nhiều hạng mục công trình khác. Tại huyện Đông Triều, cát khai thác chủ yếu từ lòng sông, bãi bồi và một số mỏ đất san lấp. Vai trò của cát xây dựng rất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Cung cấp nguyên liệu cho các dự án hạ tầng giao thông, thủy lợi, nhà ở. Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động trong vùng. Đồng thời đóng góp ngân sách nhà nước thông qua thuế, phí và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản trên địa bàn.

1.2. Thực trạng khai thác cát xây dựng tại Đông Triều

Thời gian qua, hoạt động khai thác cát xây dựng trên địa bàn huyện Đông Triều phát triển mạnh. Nhiều tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác theo quy định của Luật Khoáng sản. Tuy nhiên, thực tế còn nhiều tồn tại đáng lo ngại. Tình trạng khai thác không phép, khai thác ngoài khu vực được cấp phép diễn ra phức tạp. Một số mỏ khai thác vượt công suất, khai thác sâu hơn mức cho phép gây sạt lở bờ bãi. Hoạt động vận chuyển cát gây ô nhiễm bụi, hư hỏng đường giao thông nông thôn. Người dân sống dọc hai bên sông bức xúc khi đất sản xuất bị sạt lở, nguồn nước bị ô nhiễm. Công tác quản lý gặp nhiều thách thức do lực lượng mỏng, địa bàn rộng.

II. Phân tích thực trạng và vấn đề quản lý khai thác cát huyện Đông Triều

Công tác quản lý hoạt động khai thác cát xây dựng trên địa bàn huyện Đông Triều đối mặt với nhiều vấn đề cấp bách. Thứ nhất, khung pháp lý về quản lý khoáng sản tuy đã hoàn thiện nhưng việc áp dụng vào thực tiễn còn vướng mắc. Phân cấp, phân quyền giữa các cấp chưa rõ ràng dẫn đến chồng chéo trong quản lý. Thứ hai, năng lực cán bộ chuyên trách còn hạn chế, thiếu trang thiết bị giám sát hiện đại. Việc kiểm tra, giám sát chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công, khó kiểm soát được toàn bộ hoạt động khai thác trên diện rộng. Thứ ba, quy hoạch mỏ khoáng sản chưa sát với thực tế, một số khu vực chưa được cấp phép nhưng nhu cầu khai thác lớn. Thứ tư, ý thức chấp hành pháp luật của một số tổ chức, cá nhân chưa cao. Tình trạng lợi dụng giấy phép để khai thác tràn lan, khai thác vào ban đêm gây khó khăn cho công tác kiểm tra. Thứ năm, cơ chế phối hợp giữa các ngành chức năng như tài nguyên môi trường, công an, chính quyền xã chưa chặt chẽ. Xử lý vi phạm còn nương tay, chưa đủ sức răn đe.

2.1. Hạn chế trong cơ chế chính sách và quy hoạch

Hệ thống pháp luật về khoáng sản còn nhiều bất cập, chưa theo kịp thực tiễn quản lý. Luật Khoáng sản 2010 và các nghị định hướng dẫn đã có nhiều sửa đổi nhưng vẫn còn khoảng trống pháp lý. Quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Đông Triều chưa được cập nhật đầy đủ. Diện tích các mỏ được cấp phép chưa tương xứng với nhu cầu thực tế. Điều này tạo ra khoảng trống giữa cung và cầu, thúc đẩy khai thác trái phép. Mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực khoáng sản còn thấp so với lợi nhuận thu được. Nhiều đối tượng coi tiền phạt như chi phí kinh doanh, tiếp tục vi phạm. Cơ chế thu hồi giấy phép chưa thực sự phát huy hiệu quả răn đe.

2.2. Thách thức trong công tác tổ chức thực hiện

Bộ máy quản lý khoáng sản cấp huyện thiếu nhân lực chuyên trách. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện vừa thực hiện nhiều nhiệm vụ, khó tập trung vào giám sát khai thác khoáng sản. Trang thiết bị phục vụ kiểm tra, giám sát còn thiếu thốn, lạc hậu. Không có hệ thống camera giám sát tại các mỏ, việc đo đạc, xác định khối lượng khai thác chủ yếu bằng phương pháp thủ công. Kinh phí cho công tác thanh tra, kiểm tra hạn chế. Địa bàn quản lý rộng, nhiều mỏ nằm ở vùng sâu, vùng xa. Thời gian khai thác thường vào ban đêm, ngày nghỉ gây khó khăn lớn. Sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng chưa thường xuyên, thiếu cơ chế chia sẻ thông tin hiệu quả.

III. Giải pháp tăng cường công tác quản lý khai thác cát xây dựng huyện Đông Triều

Để tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động khai thác cát xây dựng trên địa bàn huyện Đông Triều, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, hoàn thiện quy hoạch mỏ khoáng sản phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển kinh tế địa phương. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch đảm bảo tính khoa học, khả thi và bền vững. Thứ hai, tăng cường ứng dụng công nghệ trong giám sát khai thác. Trang bị hệ thống camera giám sát, thiết bị định vị GPS cho phương tiện khai thác, vận chuyển. Xây dựng phần mềm quản lý trực tuyến kết nối các cơ quan chức năng. Thứ ba, nâng cao năng lực cán bộ quản lý thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn. Tăng cường biên chế cho lực lượng chuyên trách. Thứ tư, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra đột xuất và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm. Nâng mức phạt, áp dụng biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện. Thứ năm, phát huy vai trò giám sát của cộng đồng dân cư, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản đến mọi tầng lớp nhân dân.

3.1. Giải pháp về hoàn thiện thể chế và quy hoạch

Cần rà soát, bổ sung quy hoạch khoáng sản cát xây dựng trên địa bàn huyện Đông Triều giai đoạn mới. Xác định cụ thể vị trí, diện tích, trữ lượng và công suất khai thác tối đa từng mỏ. Ban hành quy định cụ thể về khoảng cách an toàn khai thác so với công trình hạ tầng, khu dân cư. Nâng cao điều kiện cấp phép, yêu cầu đánh giá tác động môi trường nghiêm ngặt hơn. Hoàn thiện cơ chế đấu giá quyền khai thác khoáng sản đảm bảo công khai, minh bạch. Xây dựng mức phí, thuế tài nguyên hợp lý để vừa khuyến khích khai thác hợp pháp, vừa bảo vệ tài nguyên. Áp dụng cơ chế đặt cọc bảo đảm phục hồi môi trường sau khai thác.

3.2. Giải pháp về tổ chức thực hiện và giám sát

Thành lập Đội chuyên trách quản lý khoáng sản cấp huyện, bố trí đủ biên chế và trang thiết bị. Trang bị xe chuyên dụng, thiết bị bay không người lái giám sát từ trên cao. Triển khai hệ thống camera giám sát tại tất cả mỏ được cấp phép, kết nối trực tuyến với cơ quan quản lý. Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa Phòng TNMT, Công an, Thanh tra, UBND các xã. Tổ chức các đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, đặc biệt vào ban đêm và ngày nghỉ. Áp dụng công nghệ GIS, bản đồ số trong quản lý, theo dõi hiện trạng khai thác. Xây dựng đường dây nóng tiếp nhận phản ánh của người dân. Khen thưởng kịp thời tổ chức, cá nhân phát hiện vi phạm.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng giải pháp quản lý khai thác cát Đông Triều

Hoạt động khai thác cát xây dựng trên địa bàn huyện Đông Triều đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội địa phương. Tuy nhiên, công tác quản lý hiện nay còn nhiều bất cập, gây lãng phí tài nguyên và ảnh hưởng xấu đến môi trường. Các giải pháp đề ra trong luận văn tập trung vào ba nhóm chính: hoàn thiện thể chế, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ mang lại hiệu quả thiết thực. Quản lý tốt hoạt động khai thác cát giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu sạt lở bờ sông, bảo vệ đời sống nhân dân. Đồng thời tăng thu ngân sách nhà nước, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh. Hướng ứng dụng của đề tài mở rộng đến các huyện khác trong tỉnh Quảng Ninh và các địa phương có điều kiện tương tự. Mô hình quản lý tích hợp công nghệ có thể áp dụng rộng rãi, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản trên toàn quốc.

4.1. Kết quả nghiên cứu đạt được

Luận văn đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Hệ thống hóa được cơ sở lý luận về quản lý hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt là cát xây dựng. Đánh giá toàn diện thực trạng quản lý khai thác cát trên địa bàn huyện Đông Triều. Phân tích được nguyên nhân, hạn chế trong công tác quản lý từ khâu quy hoạch, cấp phép đến giám sát, xử lý vi phạm. Đề xuất được hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm tăng cường hiệu quả quản lý. Các giải pháp được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính áp dụng cao. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản cấp huyện, cấp tỉnh.

4.2. Khuyến nghị và hướng phát triển

Đề xuất UBND huyện Đông Triều sớm ban hành kế hoạch triển khai các giải pháp tăng cường quản lý khai thác cát. Ưu tiên đầu tư trang thiết bị giám sát công nghệ cao, hệ thống camera giám sát tại các mỏ trọng điểm. Tăng cường hợp tác với các viện, trường đại học trong đào tạo cán bộ quản lý khoáng sản. Xây dựng đề án thí điểm mô hình quản lý tích hợp công nghệ tại một số mỏ tiêu biểu. Đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng ra toàn huyện. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào đánh giá tác động môi trường chi tiết, đề xuất giải pháp phục hồi môi trường sau khai thác và xây dựng cơ chế quản lý tài nguyên cát theo hướng kinh tế tuần hoàn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận văn giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý hoạt động khai thác cát xây dựng trên địa bàn huyện đông triều

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu tính chất cơ lý và ứng dụng cho xử lý nền đất yếu. Chƣơng 2: Điều kiện địa kỹ thuật đồng bằng ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng. Chƣơng 3: Nghiên cứu thành phần vật chất và tính chất cơ lý của đất yếu. Chƣơng 4: Cấu trúc nền đất yếu và phân tích lựa chọn thông số đất nền trong tính toán xử lý nền đất yếu.

4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT CƠ LÝ VÀ ỨNG DỤNG CHO XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU 1.1 Tổng quan về nghiên cứu tính chất cơ lý nền đất yếu 1.1 Khái quát về đất yếu và nền đất yếu Trong tự nhiên, những loại đất yếu thƣờng gặp là đất loại sét (cát pha, sét pha và sét) trạng thái dẻo chảy đến chảy, cát bụi bão hòa nƣớc hoặc các loại đất ở dạng bùn, than bùn,.Tùy thuộc vào thành phần vật chất, phƣơng thức và điều kiện hình thành, vị trí trong không gian, điều kiện địa lý, khí hậu,.mà tồn tại những loại đất yếu khác nhau. Xét theo nguồn gốc, đất yếu có thể đƣợc hình thành trong điều kiện lục địa, vũng vịnh, đầm hồ ở khu vực vùng cửa sông, tam giác châu, vịnh biển hoặc nguồn gốc biển đƣợc hình thành ở khu vực nƣớc nông (<200 m), khu vực thềm lục địa (200 - 3000 m). Đất yếu đƣợc phân chia nhƣ sau: - Đất dính yếu hay còn gọi là đất loại sét yếu trạng thái dẻo chảy đến chảy, độ sệt IL > 0,75. Tên của loại sét yếu này đƣợc gọi theo chỉ số dẻo (PI) và bao gồm cát pha (PI <7), sét pha (PI =7 - 17 ) và đất sét (PI >17).

- Đất bùn hữu cơ, trong nghiên cứu đất xây dựng ngƣời ta thƣờng chia đất hữu cơ theo hàm lƣợng vật chất hữu cơ chứa trong đất yếu và đƣợc gọi tên nhƣ sau: nếu hàm lƣợng hữu cơ <10% đƣợc gọi là bùn hữu cơ, đất than bùn có hàm lƣợng hữu cơ từ 10% - 60% và than bùn có chứa hữu cơ > 60% [1]. Tuy vậy, theo 22TCN262-2000 thì đất than bùn, than bùn đƣợc gộp lại và thƣờng gọi là than bùn với hàm lƣợng hữu cơ từ 20 - 80%, bùn hữu cơ nếu hàm lƣợng hữu cơ < 20%. Ngoài ra, còn gọi tên đất theo mức độ chứa hàm lƣợng hữu cơ: đất chứa ít hữu cơ (2 - 5%), đất chứa hàm lƣợng hữu cơ trung bình (5 - 10%), đất chứa nhiều hữu cơ (10 - 15%) và đất chứa rất nhiều hữu cơ (15 - 20%). Có các loại bùn hữu cơ nhƣ: bùn cát pha (PI< 7; e0= 0,9 - 1,0), bùn sét pha (PI = 7 - 17; e0 = 1,0 - 1,5) và bùn sét (PI >17; e0 >1,5) [2].

Trong các tiêu chuẩn Anh (BS), Mỹ (ASTM) thì than bùn và các loại đất chứa hữu cơ khác có giới hạn chảy và giới hạn dẻo rất cao, chúng đều nằm dƣới đƣờng A trên biểu đồ dẻo và khi gọi tên đất đều phải kèm theo chữ Pt hoặc O nhƣ trên hình 1 phụ lục. 5 - Cát bụi bão hòa nƣớc thuộc loại đất rời hay đất loại cát. Tên gọi loại đất này phải thoả mãn điều kiện: nhóm hạt có đƣờng kính <2 mm chiếm > 50% và nhóm hạt có đƣờng kính >0,1 mm phải <75% [1]. Các công trình nghiên cứu về đất yếu đƣợc đề cập rất nhiều trong các Hội nghị quốc tế về “Cơ học đất, nền và móng” ở trên thế giới: Cambridge (1936), Rotterdam (1948), Paris (1961), Tallin (1965), Riga (1972).

Tuy nhiên, khái niệm về đất yếu cho đến nay vẫn chƣa có sự thống nhất cao.Lomtadze xếp đất yếu vào nhóm đất có thành phần, trạng thái và tính chất đặc biệt [3]. Bên cạnh đó, Lareal Pierre quan niệm đất yếu là đất có khả năng chịu tải thấp (50 -100 kPa), tính nén lún lớn, hầu nhƣ bão hòa nƣớc, hệ số rỗng lớn (e0 >1), môđun biến dạng thấp (Eo< 5000 kPa), sức kháng cắt nhỏ [4]. Theo quan điểm xây dựng của một số nƣớc, đất yếu đƣợc xác định theo tiêu chuẩn về sức kháng cắt không thoát nƣớc Su và chỉ số xuyên tiêu chuẩn N30 (đất rất yếu khi Su ≤ 12,5 kPa hoặc N30 ≤ 2 và đất yếu khi Su ≤ 25 kPa hoặc N30 ≤ 4) [5], [6], [7]. Theo TCVN 9355-2012 đất yếu là loại đất cần phải tiến hành xử lý mới có thể làm nền móng cho công trình.

Các loại đất yếu thƣờng gặp là bùn, đất loại sét ở trạng thái dẻo chảy đến chảy. Những loại đất này thƣờng có độ sệt lớn (IL >0,75), hệ số rỗng lớn (e0 >1), góc ma sát trong nhỏ ( <100), cƣờng độ lực dính đơn vị theo kết quả cắt nhanh không thoát nƣớc c < 15 kPa, sức kháng cắt không thoát nƣớc theo VST Su < 35 kPa, có sức chống mũi xuyên qc < 10 kPa và chỉ số SPT là N30 < 5 [8]. Nền đất là đất yếu nếu ở trạng thái tự nhiên, độ ẩm của đất gần bằng hoặc cao hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn, cƣờng độ lực dính đơn vị c theo kết quả cắt nhanh không thoát nƣớc c ≤15 kPa, φ = 00 - 100 hoặc sức kháng cắt không thoát nƣớc theo VST Su ≤ 35 kPa [8]. Có thể nhận thấy trên thế giới và trong nƣớc, khái niệm về đất yếu và nền đất yếu cho đến nay vẫn chƣa rõ ràng và nhất quán, bởi lẽ đất có thể xem là “tốt” đối với CTXD này nhƣng lại “yếu” với CTXD khác.

Trên quan điểm xem xét mối quan hệ tƣơng tác giữa tính chất, quy mô tải trọng công trình và sức chịu tải của nền đất, tác giả cho rằng: Đất yếu là đất có khả năng chịu tải thấp (<50 kPa), độ bền kháng cắt thấp (c<10 kPa, φ<80), khả năng biến dạng được đặc trưng bằng hệ số nén lún lớn (a≥ 10 kPa-1) và môđun tổng biến dạng nhỏ (E0≤5000 kPa), không phù hợp làm nền cho công trình.2 Nghiên cứu, sử dụng nền đất yếu trên thế giới Khi nghiên cứu đất yếu, việc đảm bảo đƣợc độ nguyên trạng của mẫu đất ở trong phòng là quan trọng nhất và vấn đề này đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. TCCL của mẫu đất trƣớc và sau khi phá hủy kết cấu tự nhiên có sự khác biệt nhau rất lớn, điều này đƣợc thể hiện rõ trên các đồ thị nén lún, quan hệ giữa ứng suất và biến dạng, sức kháng cắt và hệ số cố kết thấm của đất. Thông qua các kết quả quan trắc hiện trƣờng, các biểu đồ quan hệ giữa độ lún và thời gian, sự thay đổi ALNLR và dịch chuyển ngang theo thời gian, Zhang đã đƣa ra các nhận định tƣơng tự nhƣ đã đề cập ở trên. Khi bị phá hủy kết cấu tự nhiên thì tính chất cơ học của đất loại sét yếu rất khó khôi phục.

Để đánh giá độ nguyên trạng của mẫu có thể sử dụng nhiều phƣơng pháp khác nhau nhƣ: dựa vào độ hút dính của đất tại ứng suất hữu hiệu tự nhiên  v' 0 , tốc độ truyền sóng cắt. Dựa vào độ biến dạng khi nén cố kết hoặc độ biến dạng thể tích   khi cố kết đẳng hƣớng trên máy nén ba trục ở trạng thái ứng suất hữu hiệu tự nhiên, Andresen và nnk chỉ ra rằng các mẫu có độ biến dạng thể tích   4% đƣợc xem là đảm e  e1 bảo tính nguyên trạng (với   0 , %), đây là phƣơng pháp đơn giản và thƣờng sử 1  e1 dụng nhiều nhất để đánh giá chất lƣợng mẫu (chất lƣợng mẫu: rất tốt   1% ; tốt   1 2% ; khá tốt   2  4% ; mẫu bị phá hoại   4  8% và mẫu xấu   8% ) [6]. Nhằm cung cấp đầy đủ và chính xác các chỉ tiêu cơ lý của đất yếu phục vụ xây dựng đƣờng giao thông, cần phải sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu thích hợp nhƣ phƣơng pháp nghiên cứu thành phần vật chất, đặc điểm sức kháng cắt và cố kết của đất yếu đƣợc đề cập bởi Nagaraj. TPVC là yếu tố đóng vai trò quyết định đến TCCL của đất yếu.

Các nghiên cứu về TPVC, trong đó nghiên cứu về TPKV của Ohtsubo và nnk đã khẳng định điều kiện tồn tại của đất yếu có vai trò quan trọng quyết định tới TPVC và TCCL của đất yếu [10]. Đất loại sét yếu ở Nhật Bản có TPKV chủ yếu là Smectit với độ nhạy cao, đất sét ở Singapore có khoáng vật sét chiếm ƣu thế là Kaolinit với độ nhạy trung bình và thấp, đất loại sét ở Pusan có khoáng vật chính là Vermiculit, Illit và có độ nhạy trung bình [6], [10]. Ngoài ra, các tác giả nhƣ V.Petrukhin cũng đã chú trọng 7 đến việc nghiên cứu ảnh hƣởng của độ nhiễm mặn đến giới hạn chảy, chỉ số dẻo và sức kháng cắt của đất. Các nghiên cứu này đƣợc xem nhƣ là cơ sở cho những nghiên cứu về sau đối với đất nhiễm mặn ở nƣớc ta.

Đất nhiễm phèn và các tính chất cơ học của đất cũng đƣợc nhiều tác giả đề cập [6]. Trong tự nhiên, TCXD của đất đá không chỉ phụ thuộc vào TPVC mà còn phụ thuộc vào đặc điểm kiến trúc của nó (E. Bên cạnh đó, cấu tạo tự nhiên của đất cũng có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến TCXD của đất. Mặt khác, các tính chất cơ học của đất yếu cũng đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu một cách chuyên sâu.

Thật vậy, từ những năm 20 của thế kỷ trƣớc, đặc tính cố kết của mẫu đất bão hòa nƣớc đã đƣợc nghiên cứu bởi K. Terzaghi dựa trên mô hình thí nghiệm nén một trục và lý thuyết này dần đƣợc hoàn thiện bởi nhiều nhà khoa học trên thế giới [6]. Trên thực tế, các bài toán cố kết một trục của K.Terzaghi vẫn là mô hình chính để tính toán các đặc tính cố kết của đất [5], [11], [12]. Theo lý thuyết của K.

Terzaghi và nnk (1925-1948), quá trình cố kết thấm xảy ra khi áp lực ngoài tác dụng vào đất hoặc do trọng lƣợng của các lớp nằm trên, khi đó đất đƣợc nén chặt và nƣớc lỗ rỗng thoát ra ngoài. Lần đầu tiên K. Nghiên cứu đặc tính cố kết của đất nói chung và đất yếu chứa hữu cơ nói riêng đã đƣợc tiến hành từ lâu trên thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ