Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Lý thuyết chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 1. Khái niệm dịch vụ và chất lượng dịch vụ Đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về “dịch vụ” được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu bởi những đặc điểm chủ yếu của dịch vụ như tính vô hình và khó nắm bắt, tính đa dạng, phong phú, phức tạp của các loại hình dịch vụ. Chính vì vậy việc đưa ra một định nghĩa thống nhất về dịch vụ là một việc làm không dễ dàng.
Ở mỗi quốc gia, tùy theo mức độ phát triển kinh tế, xã hội mà có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về dịch vụ. Tác giả Zeithaml và Berry (1998) coi dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng[27]. Theo Gronroos, dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ [28].Theo Kotler và cộng sự (2005), định nghĩa “Dịch vụ là bất kỳ hành động hoặc hiệu quả vô hình nào mà một bên cung cấp cho bên khác mà không dẫn đến quyền sở hữu bất cứ thứ gì” [29].Có thể hiểu dịch vụ là cung cấp các hoạt động tạo ra lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ở một góc độ nào đó.Đối với hoạt động bệnh viện, phòng khám dịch vụ được hiểu là toàn bộ quá trình, các giải pháp mang lại những tiện ích cung cấp cho người bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu về khám chữa bệnh của họ. Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa về dịch vụ và thường được đề cập đến là dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống con người.
Tác giả Nguyễn Thị Mơ (2005) cũng đã đưa ra định nghĩa về 5 dịch vụ như sau: "Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được" [3]. Với cách tiếp cận này thì dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể. Có thể thấy các định nghĩa nêu trên đều thống nhất ở điểm chúng đều đề cập đến những đặc điểm cơ bản của dịch vụ đó là một sản phẩm, là kết quả của quá trình lao động, sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người; dịch vụ nhiều khi là vô hình, là phi vật thể. Theo Philip Kotler: “dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia.
Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào” Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động cung ứng dịch vụ rất đa dạng và phong phú. Đó có thể là những dịch vụ tiêu dùng như ăn uống, máy móc gia dụng, sửa chữa nhà cửa hay các dịch vụ công cộng như cung ứng điện, nước và vệ sinh đô thị. Cũng có thể là những dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh như ngân hàng, vận tải, bảo hiểm.
Dịch vụ có những đặc điểm cơ bản sau: Dịch vụ nhiều khi là vô hình nên khó xác định, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ thường xảy ra đồng thời và dịch vụ không lưu trữ được.Dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế, WTO đã chia toàn bộ khu vực dịch vụ thành 12 ngành, mỗi ngành dịch vụ lại được chia ra thành các phân ngành, trong các phân ngành có liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể có thể tham gia vào thương mại quốc tế. Theo cách phân loại này của WTO, các dịch vụ của ngành y tế trong đó có dịch vụ do bệnh viện cung cấp nằm trong nhóm ngành 8 là "Các dịch vụ xã hội và liên quan đến sức khỏe" bao gồm các phân ngành: các dịch vụ bệnh viện, các dịch vụ y tế khác, các dịch vụ xã hội và các dịch vụ khác 6 * Chất lượng dịch vụ: Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau. Một số chuyên gia về chất lượng đã định nghĩa rằng: - Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ (Parasuraman và cộng sự, 1985) [30]. - Chất lượng dịch vụ là sự cung cấp dịch vụ xuất sắc so với mong đợi khách hàng (Zeithaml và Bitner,1996) [31].
Định nghĩa: Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là khả năng của các dịch vụ khám chữa bệnh đáp ứng các nhu cầu của người bệnh, chất lượng dịch vụ KCB được xác định bởi người bệnh, cũng như người bệnh hàng mong muốn. Trong khi đó nhu cầu của người bệnh luôn luôn biến động nên chất lượng dịch vụ KCB cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng từ phía người bệnh, Chất lượng dịch vụ KCB do khách hàng quyết định bằng cảm nhận nên thường mang tính chủ quan tùy thuộc vào nhu cầu và mong đợi của khách hàng là người bệnh/ người liên hệ gọi dịch vụ/ trả tiền cho dịch vụ đó. Do đó, chất lượng dịch vụ KCB có tính không đồng nhất. Mọi người ngày càng không ngừng tìm kiếm các sản phẩm và dịch vụ chất lượng.
Điều này khiến các nhà quản trị đều coi chất lượng là mục tiêu chiến lược để đạt được lợi thế cạnh tranh. Nếu chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ được cải thiện sẽ làm giảm chi phí, tăng năng suất và tạo ra sản phẩm tốt hơn hay dịch vụ có sẵn cho khách hàng, từ đó nâng cao năng lực tổ chức và tạo mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Dịch vụ khám chữa bệnh Dịch vụ khám chữa bệnh tại phòng khám gọi tắt là dịch vụ phòng khám, là một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất, dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như: Khám, chữa bệnh phục vụ người bệnh và gia đình 7 Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chuẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận.
Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh. Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm cả việc ứng dụng khoa học kỹ thuật y khoa theo cách thức nào đó để tối đa hóa lợi ích về sức khỏe mà không làm gia tăng các rủi ro tương ứng do kỹ thuật này. Do đó chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh chính là mức độ dịch vụ y tế được kỳ vọng sẽ đem lại sự cân bằng mong muốn nhất giữa rủi ro và lợi ích. Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm hai thành phần: Chất lượng chuyên môn, kỹ thuật và chất lượng chức năng.
Chất lượng chuyên môn, kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh. Chất lượng chuyên môn kỹ thuật được thể hiện qua các chỉ tiêu đo lường cụ thể như số lần khám, số lần chụp X quang, số lần siêu âm… Do vậy chất lượng chuyên môn kỹ thuật là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng của dịch vụ khám chữa bệnh tại phòng khám. Chất lượng chức năng chính là cách thức mà chất lượng chuyên môn, kỹ thuật được mang đến cho người bệnh như thế nào. Chất lượng chức năng do người bệnh cảm nhận và đánh giá tùy thuộc vào mong đợi và nhu cầu của người bệnh.
Do đó, cùng một chất lượng dịch vụ như nhau nhưng các người bệnh khác nhau sẽ có những cảm nhận khác nhau, thậm chí cùng người bệnh nhưng ở các thời điểm khác nhau, người ta cũng có những cảm nhận khác nhau. Chất lượng chức năng cũng phụ thuộc nhiều vào người cung cấp dịch vụ và các yếu tố ngoại vi như môi trường, cơ sở vật chất phòng khám , thái độ của nhân viên y tế… 8 Có nhiều cách đánh giá khác nhau về chất lượng dịch vụ thông qua cảm nhận của khách hàng. Parasuraman và cộng sự (1985) đưa ra mười khía cạnh của chất lượng dịch vụ bao gồm: - Tin cậy: tính chắc chắn của kết quả, có căn cứ, làm đúng ngay từ đầu và những lời cam kết; - Đáp ứng: luôn sẵn sàng phục vụ khách hàng một cách nhanh chóng; - Năng lực: gồm kiến thức, kỹ năng của nhân viên tiếp xúc, nhân viên trợ giúp, khả năng quản lý, điều hành của tổ chức; - Tác phong: nhân viên luôn lịch sự, nhã nhặn, ân cần và thân thiện khi giao tiếp; - Tín nhiệm: lòng tin, sự tin tưởng, sự chân thật và chiếm được tình cảm của khách hàng; - Đảm bảo: không có nguy hiểm, rủi ro hay bất ngờ; - Tiếp cận: dễ dàng tiếp cận; - Truyền đạt thông tin: luôn lắng nghe và thông tin cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được. + Hướng dẫn khách hàng bằng lời nói ngắn gọn để họ dễ hiểu; + Giải thích dịch vụ cho khách hàng hiểu; + Giải thích giá cả dịch vụ; + Giải thích sự chuyển giao dịch vụ và chi phí; + Bảo đảm với khách hàng các vấn đề giải quyết.
- Hiểu rõ khách hàng: luôn cố gắng tìm hiểu nhu cầu khách hàng; - Tính hữu hình: những khía cạnh trông thấy của dịch vụ như trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, nhân viên phục vụ. Thang đo trên có ưu điểm là bao quát hầu hết của các khía cạnh của dịch vụ nhưng rất phức tạp trong việc đo lường và đánh giá. Hơn nữa, thang đo này mang tính lý thuyết, phức tạp và có thể một số thành phần trong mô hình không đạt giá trị phân biệt trong một số trường hợp.