Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về truyền thông KH&CN Chương 2: Khảo sát hoạt động truyền thông trong doanh nghiệp KH&CN Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông trong doanh nghiệp KH&CN 10 Footer Page 18 of 107. Header Page 19 of 107. CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LU N VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG TRONG DOANH NGHIỆP KH&CN 1. Hệ thống khái niệm và lý thuyết 1.
Truyền thông, truyền thông KH&CN Truyền thông: Truyền thông là gì? Hiểu một cách đơn giản truyền thông (communication) là quá trình truyền đạt, chia sẽ thông tin; là một kiểu tương tác xã hội với sự tham gia của ít nhất 02 tác nhân. Lịch sử loài người cho thấy, con người có thể sống được với nhau, giao tiếp và tương tác lẫn nhau trước hết là nhờ vào hành vi truyền thông (thông qua ngôn ngữ hoặc cử chỉ, điệu bộ, hành vi… để chuyển tải những thông điệp, biểu lộ thái độ cảm xúc). Qua quá trình truyền thông liên tục, con người sẽ có sự gắn kết với nhau, đồng thời có những thay đổi trong nhận thức và hành vi. Chính vì vậy, truyền thông được xem là cơ sở để thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người, là nền tảng hình thành nên cộng đồng, xã hội.
Nói cách khác, truyền thông là 1 trong những hoạt động căn bản của bất cứ 1 tổ chức xã hội nào. Mối quan hệ giữa người với người sẽ không thể duy trì nếu không có hoạt động giao tiếp trong đó chủ yếu là sự trao đổi thông tin giữa từng cá thể với nhau, giữa cá thể với cộng đồng hay giữa cộng đồng với nhau. Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng đưa ra định nghĩa: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [7, tr.8] Các tác giả cuốn Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản- PGS.TS Nguyễn Văn Dững và Th.S Đỗ Thị Thu Hằng đã đưa ra nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về truyền thông, trong đó định nghĩa được coi 11 Footer Page 19 of 107. Header Page 20 of 107.
là chung nhất như sau: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/ cộng đồng/ xã hội. Định nghĩa này có bước phát triển hơn so với các định nghĩa đã được dẫn trong sách khi nhấn mạnh truyền thông là “quá trình liên tục” và truyền thông nhằm mục đích “thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi”. Có nghĩa là: con người hiện đại không chỉ bằng lòng với thông tin hạn hẹp đủ để biết mà còn có nhu cầu hiểu “tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp” từ những thông tin họ thu nhận được. Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết, hiểu biết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi.” Truyền thông có hiệu quả nghĩa là những thông tin được truyền đạt một cách nhanh chóng, chính xác, làm ngắn khoảng cách giữa con người và con người.
Nếu xét trong một xã hội thì vòng tròn khép kín và mối quan hệ qua lại bởi thông tin nhiều chiều giữa Nhà nước, các phương tiện truyền thông đại chúng và các tầng lớp xã hội có tác dụng thúc đẩy xã hội tiến lên, đó chính là quá trình vận động tất yếu của truyền thông. Truyền thông đại chúng: Nếu truyền thông là 1 hành vi xuất hiện từ từ trước khi hình thành xã hội loài người và có thể diễn ra không có chủ đích, thì truyền thông đại chúng (mass communication) với tư cách là 1 quá trình xã hội có chủ đích – quá trình truyền đạt thông tin 1 cách rộng rãi đến mọi nguời trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng – thuật ngữ truyền thông đại chúng chỉ xuất hiện trên thế giới từ khoảng cuối thế kỷ 12 Footer Page 20 of 107. Header Page 21 of 107. XVI, trên cơ sở của nhiều loại tiến bộ kỹ thuật khác nhau, đặc biệt là kỹ thuật in ấn.
Bước sang thế kỷ XX, với sự ra đời của phát thanh, truyền hình, điện thoại và tiếp đó là sự xuất hiện của máy tính điện tử cá nhân rồi đến mạng máy tính toàn cầu và mạng internet, truyền thông đại chúng đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn mức độ ảnh hưởng tới từng cá nhân riêng lẻ đến toàn xã hội. Truyền thông đại chúng không chỉ là một định chế đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến thông tin và kiến thức cho dân chúng, mà còn tác động trở lại 1 cách sâu xa và mạnh mẽ vào tất cả các định chế xã hội khác, từ chính trị, kinh tế cho đến văn hóa, gia đình… Theo nhà xã hội học truyền thông Francis Balle, trong lịch sử các phương tiện truyền thông đại chúng, thời gian kể từ khi phát minh ra 1 kỹ thuật tới khi 1 phương tiện truyền thông mới ra đời và được thương mại hóa ngày càng được rút ngắn. Đối với báo in, phải mất 4 thế kỷ, kỹ thuật điện ảnh chỉ mất khoảng 60 năm, kỹ thuật truyền sóng phát thanh là hơn 20 năm, trong khi truyền hình chỉ mất hơn 10 năm. Điều này cho thấy, ngoài yếu tố kỹ thuật, nhu cầu nắm bắt thông tin của con người cũng có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng đa dạng.
Năm 1946, lần đầu tiên thuật ngữ “truyền thông đại chúng” được sử dụng trong lời nói đầu của Hiến chương Liên hợp quốc về Văn hóa, Khoa học và Giáo dục. Hiện nay, các phương tiện truyền thông đại chúng như báo in, phát thanh, truyền hình, internet quảng cáo, các loại băng, đĩa âm thanh, hình ảnh… đã trở thành nhu cầu “không thể thiếu” trong đời sống của đại đa số người dân trên toàn cầu. Theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Xuất bản – Báo chí thế giới (WAN-IFRA), hơn 3 tỷ người, hoặc 72% số người lớn biết chữ trên toàn thế giới đọc, theo dõi thường xuyên các phương tiện thông tin đại chúng. 13 Footer Page 21 of 107.
Header Page 22 of 107. Truyền thông KH&CN Truyền thông khoa học và công nghệ (KH&CN) là hoạt động tương tác xã hội nhằm chia sẻ thông tin về tất cả các hoạt động liên quan đến KH&CN từ cơ chế, chính sách, pháp luật của một quốc gia về phát triển KH&CN đến những hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai, phát triển công nghệ trong các lĩnh vực khoa học (tự động hóa, viễn thông, y sinh, công nghệ sinh học, hóa dầu, thực phẩm.); những hoạt động đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất, kinh doanh, đổi mới sản phẩm, dịch vụ, đến các hoạt động dịch vụ KH&CN như thông tin, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, sở hữu công nghiệp,…về thành tựu, kết quả của hoạt động KH&CN: từ nhận thức của xã hội về KH&CN, vai trò của KH&CN đối với phát triển kinh tế- xã hội, những tiến bộ KH&CN đạt được, khả năng áp dụng những kết quả, chuyển giao công nghệ vào sản xuất, đời sống; đến những mô hình hoạt động tiên tiến, hiệu quả, những tổ chức, cá nhân điển hình …Truyền thông KH&CN nói chung được coi là phương tiện truyền thông đại chúng nhằm chuyển tải thông tin KH&CN đến với công chúng. Nói một cách ngắn ngọn: Truyền thông KH&CN nói chung được coi là phương tiện truyền thông đại chúng nhằm chuyển tải thông tin KH&CN đến với công chúng [54,tr. Các hình thức truyền thông KH&CN • Các cuộc thi: quốc gia, quốc tế, các chủ đề KH&CN chuyên biệt • Ấn phẩm: các tạp chí, báo điện tử, sách điện tử.
• Kết nối: các tổ chức KH&CN, câu lạc bộ KH&CN, blog, trang web, facebook. • Trình diễn: các buổi biểu diễn khoa học, nhà hát khoa học; Triển lãm về quá trình phát triển của KH&CN • Hội nghị- hội thảo 14 Footer Page 22 of 107. Header Page 23 of 107.2 Lý thuyết truyền thông, truyền thông KH&CN Lý thuyết truyền thông Để tiến hành một quá trình truyền thông cần có các yếu tố: nguồn thông điệp, mạch chuyển (kênh), người nhận. Chúng ta có thể tìm hiểu nó thông qua mô hình truyền thông do Horald Lasswell đưa ra: S M C R E Trong đó: S (Source Sender) : Nguồn phát, chủ thể truyền thông M (Message) : Thông điệp, nội dung truyền thông C (Channel) : Kênh truyền thông R (Receiver) : Người nhận thông điệp (đối tượng) E (Effect) : Hiệu quả truyền thông Đây là mô hình truyền thông một chiều, được tiến hành bắt đầu từ nguồn tiếp nhận qua một quá trình đến người nhận, nó tác động vào đối tượng tiếp nhận thông tin và tạo hiệu quả của truyền thông (E).
Trong mô hình này không thể thiếu đi một yếu tố hay một giai đoạn nào. Vì nếu thiếu thì sẽ không thể thực hiện được quá trình truyền thông. Đây là mô hình truyền thông đơn giản rất thuận lợi trong khi cần chuyển những thông tin khẩn cấp, tuy nhiên, sẽ không thu hút được những ý kiến từ phía đối tượng tiếp nhận. Khác với quá trình truyền thông một chiều, quá trình truyền thông hai chiều do Claude Shannon đưa ra đã khắc phục được nhược điểm của mô hình truyền thông một chiều bằng cách chờ đợi phản ứng đáp lại của đối tượng tiếp nhận thông tin.
15 Footer Page 23 of 107. Header Page 24 of 107. N S M C R E F Trong đó: S (Source Sender) : Nguồn phát, chủ thể truyền thông M (Message) : Thông điệp, nội dung truyền thông C (Channel) : Kênh truyền thông R (Receiver) : Người nhận thông điệp (đối tượng) E (Effect) : Hiệu quả truyền thông N (Noise) : Nhiễu (yếu tố tạo sai số trong thông tin) F (Feedback) : Phản hồi (yếu tố tác động trở lại giúp cho truyền thông đạt hiệu quả cao) Như vậy, thông tin được bắt đầu từ nguồn phát (S) thông qua các kênh truyền thông đến với người nhận (R) thu được hiệu quả (E) dẫn đến hành động và dẫn đến có phản ứng trả lời ngược lại hay phản hồi (F) đối với nguồn phát. Nhờ đó nguồn phát sẽ biết được nội dung thông tin đến với đối tượng tiếp nhận đạt hiệu quả ở mức độ nào, người nhận muốn thu được những thông tin về lĩnh vực nào.
Các nhà truyền thông có thể dựa vào đó để điều chỉnh nội dung thông tin của mình cho phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận.