CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE MARKETING - MIX 1. KHÁI NIỆM VÈ MARKETING - MIX 1. Khái niệm Marketing Marketing bắt nguồn từ một thuật ngữ tiếng Anh. Nghĩa đen của nó là “làm thị trường”.
Thuật ngữ “Marketing” được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1902 trên giảng đường Đại học Tổng hợp Michigan ở Mỹ. Quá trình quốc tế hoá của Marketing đã phát triển rất nhanh. Ngày nay, hầu như tắt cả các nước Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Úc, Châu Phi đều đã giảng dạy và ứng dụng Marketing trong sản xuất kinh doanh (SXKD) một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, việc định nghĩa thuật ngữ này có biến chuyển, đặc là từ sau thập niên 60 đến nay.
Quan điểm Marketing truyền thống vốn đề cao sản phẩm giá rẻ, chất lượng vượt trội và đây mạnh công tác bán hàng. Quan điểm Marketing hiện đại thì tiến bộ hơn, quan ìm này cho rằng chìa khoá để tổ chức đạt được thành công là phải xác định được mong muốn của khách hàng mục tiêu và làm thỏa mãn họ bằng những phương thức hữu hiệu hơn đối thủ cạnh tranh. Có nhiều khái niệm về Marketing được sử dụng phổ thể định nghĩa Marketing như sau: Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà c a nhân và tập thể có được những cái mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, cung cấp và trao đổi những sản phẩm có giá trị với người khác. Khái niệm Marketing - Mix * Định nghĩa Marketing-mix: Marketing-mix là tập hợp những công cụ marketing mà doanh nghiệp sử dụng để theo đuổi những mục tiêu marketing của mình trên thị trường mục tiêu.
Trong marketing-mix dịch vụ, thay vì 4P, người ta sử dụng công cụ marketing hỗn hợp 7P, bao gồm PI - sản phẩm (Product), P2 - (Price), P3 - phân phối (Place), P4 - xúc tiến (Promotion), P5 - con người (People), P6 - quá trình (Process) và P7 - các yếu tố hữu hình (Phycical Evidence). Bốn thành tố đầu tiên: sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến được sử dụng chung cho. marketing lĩnh vực sản xuất. Ba thành tố sau là: con người, quá trình, và các yếu tố hữu hình có vai trò đặc biệt quan trọng tác động đến khách hàng đối với marketing lĩnh vực dịch vụ.
Sự đa dạng Kênh Chất lượng Độ phủ Thiết kế Xếp hàng hóa. Đặc tính Địa điểm "Tên nhãn Tén kho BaobÌ San phim "on người) Phân phối Vân tải Kích cỡ Dịch vụ Bảo hành. Ợ Thị trường mục tiêu. l Giá cả Xúc tiến Giá niêm yết Cơ sở Quá trình Khuyến mãi Chiết khấu.
vật san xuat Quảng cáo. Bot gid chat va cung Lực lượng bán hàng. Kỳ hạn trả tiền ứng dịch Quan hệ công chúng Điều khoản tín dụng. vụ Marketing trực tiếp Hình 1.
Cấu trúc của Marketing - Mix 1. Marketing dịch vụ a. Khái niệm Marketing dịch vụ là quá trình thu nhận, tìm hiểu đánh giá và thỏa mãn nhu cầu thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp làm tác động đến toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu dùng thông qua việc phân phối các nguồn lực của tổ chức. Bản chất các hoạt động của Marketing dịch vụ Bản chất dịch vụ ngày cảng phát triển va trở thành một bộ phận lớn trong hoạt động sản xuất vật chất của xã hội.
Phạm vi của sản xuất dịch vụ ngày cảng mở rộng và phong phú, vì vậy dịch vụ trở thành ngành kinh doanh có hiệu quả. Do một trong những đặc tính của dịch vụ là tính không hiện hữu, vì vậy để thực hiện dịch vụ cần phải có người tiếp nhận, đó là sự tham gia của khách hàng trong một chương trình địch vụ được thống nhất, hoàn chỉnh. - Nhu cau người tiếp nhận phải được tìm hiểu kỹ để giới thiệu hàng hóa vật chất và phi vật chất trong thời gian chuyền giao dịch vụ. - Lợi ích mà người tiêu thụ nhận được và sự thay đổi của họ như thế nào.
theo sự nhận được dịch vụ chuyển giao. - Người cung cấp dịch vụ phải xử lý các vấn đề phát sinh và thực hiện các giải pháp, các hình thái thích hợp, nhằm cực đại hóa dịch vụ mà người tiêu dùng nhận được trong thời gian chuyền giao. - Người quản lý dịch vụ cần phải tạo ra dịch vụ đạt mức độ tiêu chuẩn hóa nào đó phù hợp đối với người tiêu dùng và người cung ứng dịch vụ. Các nội dung trên là bản chất của các hoạt động marketing dịch vụ, nếu thiếu một trong bốn yếu tố trên sẽ dẫn đến hiệu quả không cao của chương trình marketing dịch vụ, đôi khi dẫn đến sự thất bại.
Trong marketing dịch vụ cần phải xác lập được mối quan hệ giữa sự nhận thức của khách hàng và tiếp thu các ý kiến của khách hàng về sản phẩm dịch vụ với cung cầu dịch vụ và những phương thức chuyển giao dịch vụ. TIỀN TRÌNH MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP. Theo quan niệm Philip Kotler, tiến hành quản trị marketing bao gồm các công việc sau: Phân tích cơ hội thị trường | Lựa chọn thị trường mục tiêu J Hoạch định marketing - mix Ị Thực hiện và kiêm tra marketing. Tiến trình Marketing theo Philip Kother 1.
Phân tích môi trường a. Môi trường vĩ mô - Môi trường vĩ mô là những yếu tô tác động gián tiếp đến doanh nghiệp trong nên kinh tế. Các yếu tố này có phạm vi rộng lớn bao trùm toàn bộ nên kinh tế. + Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế bao gồm tắt cả các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sức mua của người dân, của chính phủ và quyết định cung.
ứng của doanh nghiệp. Vì vậy cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động marketing của doanh nghiệp. Môi trường này tập hợp nhiều yếu tố có ảnh hưởng sâu rộng và theo những chiều hướng khác nhau đến hoạt động doanh nghiệp như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, mức độ lạm phát, thu nhập bình quân đầu người, chính sách kinh tế quốc gia: thể hiện các quan điểm, định hướng phát triển nền kinh tế của Nhà nước. Chính sách kinh tế tì n: ưu đãi hay hạn chế đối với một hoặc một số ngành nào đó.
+ Môi trường chính trị - pháp luật: Môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động marketing của doanh nghiệp bao gồm: các luật lệ, quy tắc và những hoạt động của các cơ quan nhà nước có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Thể chế chính trị giữ vai trò định hướng, chỉ 10 phối các hoạt động trong xã hội, trong đó có các hoạt động sản xuất kinh doanh. Môi trường chính trị - pháp luật thuộc nhóm các yếu tố vĩ mô, mặc dù nó có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng yếu tố này giữ vai trỏ rất quan trọng trong công việc xác định hướng kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông. + Môi trường công nghệ: Sự thay đổi của công nghệ mang lại những thách thức và nguy cơ đối với doanh nghiệp viễn thông.
Sự thay đổi của công. nghệ còn được gọi là "sự phá hủy sáng tạo" luôn mang lại những sản phẩm dịch vụ mới, nâng cao năng lực của con người, thay đổi phương pháp làm việc của họ. Nhu cầu đổi mới sản phẩm tăng, nhiều sản phâm mới được tung ra thị trường làm cho vòng đời sản phẩm, chu kỳ sản phẩm ngắn lại. Sự bùng nỗ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện hữu mau bị lỗi th.
tao ra ap lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng. Sự bùng nỗ của công nghệ mới làm cho vòng đời công nghệ có xu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm áp lực phải rút ngắn thời gian khấu hao. Bên cạnh các đe dọa của việc bùng nỗ công nghệ thì cũng có những cơ hội mới cho người tiêu dùng: công nghệ mới làm cho sản xuất với sản phẩm rẻ hơn, chất lượng cao hơn, nhiều tính năng hơn. sản phẩm lúc này có khả năng cạnh tranh tốt hơn.
Sự ra đời của các công nghệ mới, áp dụng công nghệ mới và khả năng chuyển giao công nghệ mới này vào các ngành khác sẽ tạo ra những cơ hội rất quan trọng để phát triển sản xuất và sản phẩm ngày cảng hoàn thiện hơn. + Môi trường văn hóa - xã hội: Doanh nghiệp và môi trường văn hóa - xã hội đều có mối liên hệ chặt chẽ, có sự tác động qua lại lẫn nhau. Xã hội cung cấp những nguồn lực mà doanh nghiệp cần, tiêu thụ những sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra. Các giá trị chung của xã hội, tập tục truyền thống, ll lối sống của doanh nghiệp, các hệ tư tưởng tôn giáo và cơ cấu dân s „ thu thập của dân cư đều có tác động nhiều mặt đến hoạt động của doanh nghiệp.
+ Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên là hệ thống các yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng đến các nguồn lực đầu vào cần thiết cho hoạt động của các doanh nghiệp, vì vậy cũng ảnh hưởng đến hoạt động marketing của doanh nghiệp. Đó là các yếu tố như khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, m trường. Môi trường vỉ mô Môi trường vì mô bao gồm những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động doanh nghiệp và ảnh hưởng đến khả năng phục vụ khách hàng. Những yếu tố này gồm: khách hàng, các nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, sản phẩm thay thế.
+ Khách hàng: là danh từ chung để chỉ những người hay tổ chức sử dụng. sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Khách hàng bao gồm người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối trung gian, khách hàng cơ quan. Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp với toàn bộ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp không thể tồn tại trong nền kinh tế thị trường nếu không có khách hàng. Khách hàng là một yếu tố quan trọng của doanh nghiệp, doanh nghiệp không phải lấy sự thỏa mãn của khách hàng làm mục đích hoạt động. Áp lực phía khách hàng có hai dạng là đòi giảm giá hoặc mặc cả nhưng yêu cầu phục vụ tốt. Từ điều này đã làm cho các nhà cung.
cấp dịch vụ nâng cao khả năng đáp ứng cho khách hàng thỏa mãn dẫn đến lợi nhuận của doanh nghiệp giảm. Những động thái về nhu cầu, sự thỏa mãn về lợi ích là những áp lực cho doanh nghiệp. Sự tự do chọn lựa sản phẩm, dẫn đến sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. + Nhà cung cấp: là danh từ chung để chỉ những tổ chức hay các cá nhân cung ứng các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp: tài chính, điện, nước, vật tư, 12 máy móc thiết bị.