Chương 1: Cơ sở lý luận - thực tiễn tổ chức hoạt động truyền thông của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động truyền thông của doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay Chương 3: Vấn đề và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận truyền thông trong doanh nghiệp vừa và nhỏ. 13 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107. Chƣơng1: CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm truyền thông Mối quan hệ giữa người với người sẽ không thể duy trì nếu không có hoạt động giao tiếp trong đó chủ yếu là sự trao đổi thông tin giữa từng cá thể với nhau, giữa cá thể với cộng đồng hay giữa các cộng đồng với nhau. Nhờ có hoạt động giao tiếp ấy mà con người mới thiết lập và duy trì được mối quan hệ trong xã hội, hiểu biết lẫn nhau, liên kết hợp tác với nhau. Hoạt động giao tiếp đó gọi là truyền thông.
Bởi vì truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan đến mọi cá thể xã hội, nên hiện tượng này có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau, tùy theo góc nhìn đối với truyền thông. Dưới đây nêu ra một số định nghĩa được dùng tương đối phổ biến: - Theo John R.Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời.Adelsm thì cho rằng, truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta. Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống. - Còn theo quan niệm của Dean C.Barnlund (1964), truyền thông là quá trình liên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn.
- Theo Frank Dance (1970), truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người.Schaehter, truyền thông là một quá trình qua đó quyền lực được thể hieneh và tính độc quyền tăng lên. 14 Footer Page 18 of 107. Header Page 19 of 107. - Theo Gerald Miler (1966), về cơ bản, truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ.
- Dưới góc độ cấu trúc, Bess Sodel cho rằng, truyền thông là một quá trình chuyển đổi từ một tình huống đã có cấu trúc nhu một tổng thể sang tình huống khác theo một thiết kế có chủ đích. Ngoài ra còn có hàng trăm định nghĩa, quan niệm khác nhau về truyền thông. Mỗi định nghĩa, quan niệm lại có những khía cạnh hợp lý riêng. Dù được diễn tả bằng những cách khác nhau, nhưng nhìn chung các định nghĩa vẫn có những điểm chung, với những nét tương đồng cơ bản.
Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “communicare”, nghĩa là biến nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải. Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người, một nhóm người sang một người, một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu. Về thực chất, đó chính là quá trình trao đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ chuyển đổi thành hành vi cá nhâ, nhóm, xã hội. Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng đưa ra định nghĩa: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [13,tr.
Tác giả cuốn Truyền thông, lý thuyết và kỹ năng cơ bản – PGS.TS Nguyễn Văn Dững và Ths Đỗ Thị Thu Hằng đã đưa ra nhiều quan niệm và từ đó đưa ra một định nghĩa chung nhất về truyền thông như sau: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng 15 Footer Page 19 of 107. Header Page 20 of 107. cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội”. Định nghĩa này phát triển hơn các định nghĩa đã dẫn khi đã nhấn mạnh truyền thông là “quá trình liên tục” và truyền thông nhằm hướng đến mục tiêu cao nhất là “thay đổi nhận thức” và “điều chỉnh hành vi và thái độ”.
Có nghĩa là, con người hiện đại không bằng lòng với những thông tin hạn hẹp, đủ để biết, hay thụ động tiếp nhận thông tin mà họ còn có nhu cầu hiểu để phát triển nhân cách “tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp” của mỗi cá nhân một cách có chủ đích và chủ động từ những thông tin mà họ tiếp nhận. Truyền thông không chỉ tổ chức thông tin mà còn tổ chức công chúng. Khả năng bao quát toàn bộ công chúng của nó có lẽ là đặc điểm quan trọng nhất của truyền thông: “Nó không chỉ hợp pháp hóa sự kiện và nguồn tin, mà còn hợp pháp hóa người đọc và các quan điểm. Hơn nữa, tính hiển thị - tức là hiển thị trước công chúng – có tầm quan trọng hết sức to lớn, ngay cả nếu không có nhiều người chịu khó đọc và xem thời sự” [7,tr.
Truyền thông có hiệu quả nghĩa là những thông tin được truyền đạt một cách nhanh chóng, chính xác, làm ngắn lại khoảng cách giữa con người với con người. Nếu xét trong một xã hội thì nó là vòng tròn khép kín và mối quan hệ qua lại bởi nhiều chiều giữa nhà nước, các phương tiện thông tin đại chúng và các tầng lớp xã hội có tác dụng thúc đẩy xã hội tiến lên, đó chính là quá trình vận động tất yếu của truyền thông. Doanh nghiệp – doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm doanh nghiệp – doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh.
16 Footer Page 20 of 107. Header Page 21 of 107. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị đinh số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày 30/06/2009 thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được xem xét như sau [52]: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 17 Footer Page 21 of 107.
Header Page 22 of 107. Doanh Quy mô nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Số lao Số lao Khu vực Số lao động Tổng vốn Tổng vốn động động I. Nông, 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 lâm nghiệp xuống trở xuống người đến đồng đến người đến và thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đến đồng đến người đến xây dựng 200người 100 tỷ đồng 300 người III.
Thương 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến vụ 50 người tỷ đồng 100 người Hình 1. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhở ở Việt Nam. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp trên thế giới vẫn có một số vai trò tương đồng đối với nền kinh tế quốc gia. Trước tiên, có thể khẳng định rằng, doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp. Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%. Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể. Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn giữ vai trò ổn định nền kinh tế.
Ở phần lớn các nền kinh tế, trong đó có Việt Nam, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu 18 Footer Page 22 of 107. Header Page 23 of 107. phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định.
Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn làm cho nền kinh tế năng động hơn. Vì doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động. Và dễ dàng, linh hoạt tiến hành những thay đổi khi có những biến động của thị trường.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng. Nó thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh. Không chỉ có vai trò to lớn với nền kinh tế nói chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn là trụ cột của kinh tế địa phương.