Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN LÝ CHAT THAI RAN SINH HOAT VA PHAP LUAT VE QUAN LY CHAT THAI RAN SINH HOAT 1. Khái niệm, đặc điểm của chat thải rắn sinh hoạt, quan lý chất thải rắn sinh hoạt 1. Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt Ở Việt Nam quản lý chất thải là một trong những nội dung quan trọng trong lĩnh vực quản lý môi trường. Thuật ngữ chất thải (Waste) thường được dùng dé chỉ những chất hay đồ vật được loại bỏ ra từ các hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau của con người.
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Chất thái là rác thải và những đô vật bị bỏ di nói chung”. Ngay từ khi ban hành các văn bản pháp quy liên quan đến lĩnh vực bảo vmôi trường chúng ta đã tích cực nghiên cứu đưa ra các định nghĩa quy chuẩn về chất thải nói chung. Theo khái niệm được nêu tại khoản 2, điều 2 Luật bảo vệ môi trường năm 1993 thì “Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc trong các hoạt động khác. Chất thải có thể ở dạng khí, lỏng , rắn hoặc các dạng khác”.
Mới đây, quy định tại Khoản 18 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2020 “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác ”. Như vậy, chất thải được hiểu là chất có thể gây ô nhiễm môi trường, làm cho môi trường bị suy thoái, bị ô nhiễm hoặc gây ra sự cô môi trường. Theo quy định của pháp luật thì tất cả các loại chất thải dù ở dạng nào và được thải ra trong trường hợp nào cũng đều phải chịu sự kiểm soát và quản lý. Chất thải ran là chất thải ở thé ran hoặc sét (bùn thai) được thai ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Thành phần của chất thải rắn rất khác nhau, bởi điều này còn phụ thuộc vào từng mùa khí hậu, ở từng địa phương, điều kiện kinh tế và nhiều 13 yếu tố khác. Tuy nhiên chat thai rắn có thé chia thành ba nhóm co bản: Các chất cháy được (Chất dẻo, da, cao su, giấy, thực phẩm, rơm, 20, cỏ,.); Cac chat không cháy được (đá, sành, sứ, kim loại, thủy tinh,.) và các chất hỗn hợp (cát, đất, tóc, đá CuỘI. Chat thải rắn được phân loại dựa trên đặc tính nguy hại của nó, gồm chat thải rắn thông thường, chat thải ran nguy hại, cụ thé: Chat thải rắn thông thường được hiểu là các loại chất thải ran không chứa hoặc chứa hàm lượng các chất hay hợp chất chưa chạm tới ngưỡng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người và môi trường. Các chất thải ran thông thường có thé kế đến các loại giấy bao, vỏ chai lọ, thủy tinh, cao su, rac sân vườn.; Chat thải ran nguy hại được quy định là các loại chất thai rắn có chứa hàm lượng các chất hay hợp chất vượt ngưỡng nguy hại, đe dọa đến sức khỏe và môi trường sống.
Các chất thải rắn nguy hại có thể bao gồm kim tiêm, đô điện hạt nhân, chi, niken, may móc phóng xạ. Chất thải răn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người [25]. Trong các đô thị, nguồn chủ yếu phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bao gồm: các khu dân cư, các khu trung tâm thương mại, các công sở trường học, từ các chợ, bệnh viện. Có thể phân chia chất thải rắn sinh hoạt thành 2 nhóm như sau: Chất thải hộ gia đình là chất thải từ thực pham, các chất hữu co dé phân hủy và các loại rác thải không bị phân hủy nhưng có thé gây ra bụi như các phan còn lại của quá trình cháy (tro than, tro xi,.); Chất thải từ dịch vụ, những cơ sở công cộng là các loại rác thải rắn nguy hại khác không bị hoặc ít bị phân hủy thối rữa như đồ nhựa, kim loại, gốm sứ, chai lọ thủy tinh, dat, sỏi,.
được thu gom từ công viên, bãi tắm, sân chơi, trường học, công sở hoặc đường phô. Từ những phân tích trên đây, tác giả rút ra khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt như sau: Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh 14 hoạt thường ngày của con người, nguồn chủ yếu phát sinh chat thải ran sinh hoạt trong các khu đô thị, khu dân cư như các hộ gia đình, các khu trung tâm thương mại, các công sở trường học, từ các chợ, bệnh viện. Khái niệm quản lý chất thải rắn sinh hoạt Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ về kinh tế -xã hội như hiện nay ở Việt Nam đã làm gia tăng rất nhanh các loại chất thải, trong đó có chất thải rắn sinh hoạt, gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho môi trường, con người và sinh vật. Chất thải rắn sinh hoạt đã trở thành một trong những thách thức lớn về môi trường mà tất cả các quốc gia trên thế giới hiện đang phải đối mặt.
Quản lý chất thải ran sinh hoạt là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, kiểm soát, phân loại, thu gom, vận chuyên, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn sinh hoạt được quản lý theo một chu trình gồm nhiều khâu được kết hợp một cách hài hòa và chặt chẽ: trước hết, được đặt ra với mục tiêu phòng ngừa, giảm thiểu và giám sát sự phát sinh chất thải rắn sinh hoạt. Tiếp đó là quá trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt; phương thức thu gom, vận chuyền; cách thức tái sử dụng, tái chế chất thải rắn sinh hoạt; sau đó, các chất thải rắn sinh hoạt còn lại được xử lý triệt để tại địa điểm nào và băng phương pháp nào cũng là các bước quan trọng cần được tiến hành một cách chuẩn chỉ để đạt được mục tiêu quản lý tốt nhất các chất thải rắn sinh hoạt nhăm đảm bảo vệ sinh môi trường. Đề thực hiện hiệu quả các nội dung của quản lý chất thải rắn sinh hoạt nêu trên, rất cần có sự tham gia tích cực của các chủ thê như các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động liên quan đến chất thải rắn sinh hoạt trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gôm dat liên, hai đảo, vùng biên và vùng trời.
15 Như vậy, quản lý chất thải rắn sinh hoạt được hiểu là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước, tô chức, cá nhân dé kiểm soát chat thải rắn sinh hoạt rong toàn bộ quá trình từ khâu phát sinh chất thải ran sinh hoạt đến khi được xử lý, tiêu huỷ, nhằm hạn chế những tác động bat lợi cho môi trường, sinh vật và sức khoẻ con người. Chủ thé quản lý chất thải rắn sinh hoạt là các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và các tổ chức, cá nhân. Các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm thực hiện kiểm soát chất thải rắn sinh hoạt trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình. Còn các tô chức, cá nhân thực hiện kiểm soát chất thải rắn sinh hoạt thông qua các hoạt động làm phát sinh chất thải ran sinh hoạt, hoạt động thu gom, vận chuyên, xử lý, tiêu huy chất thải rắn sinh hoạt.
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt bao gồm tổng thể các hoạt động mà các chủ thé nêu trên phải tiễn hành dé kiểm soát chất thải rắn sinh hoạt như: nghiên cứu xây dựng và ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất thải rắn sinh hoạt, danh mục chất thải chất thải rắn sinh hoạt; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt; phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn;.Mục đích của quản lý chất thải răn sinh hoạt là phòng ngừa và hạn chế những ảnh hưởng xấu, tiêu cực đến môi trường, sinh vật và sức khoẻ của con người từ quá trình làm phát sinh, thu gom, vận chuyên hay tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ, thải loại chất thải rắn sinh hoạt. Việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình và các chất thải tương tự từ các cơ sở thương mại, các cơ quan. có hai đặc điểm chính sau đây: Mot là, lượng chất thải rắn sinh hoạt không 16 đang phát sinh hàng ngày ở các thành phố lớn rat cần được quản lý và kiểm soát nhăm ngăn ngừa ô nhiễm gây ra những tác động tiêu cực đến các thành phần môi trường như đất, nước, không khí. Bên cạnh đó, sự đa dạng về thành phần chất thải 16 rắn sinh hoạt, đặc biệt trong những năm gần đây, lượng chất thải khó phân hủy như các đồ dùng nhựa, túi nylon gia tăng chóng mặt, khiến cho việc xử lý chất thải rắn sinh hoạt trở nên càng ngày càng khó khan; Hai là, hệ thống thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt rất phúc tạp và sử dụng nhiều lao động dẫn đến những hạn chế vướng mắc và hiệu quả không cao.
Khái niệm, đặc điểm và nội dung điều chỉnh của pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt 1. Khái niệm pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt Quản lý chat thải ran sinh hoạt ở nước ta trong gian qua đã được Dang và Nhà nước rất chú ý quan tâm. Các đạo luật về bảo vệ môi trường (từ năm 1993, 2005, 2014 đến 2020), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, mới đây là Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Thông tư 02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. đều có các quy định cụ thé về lĩnh vực này.
Dé quản lý có hiệu quả chất thải ran sinh hoạt, pháp luật đã xác định một quy trình dé triển khai và thực hiện một cách lần lượt nhiều khâu khác nhau, từ việc thu gom, lưu giữ, vận chuyền đến việc xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn sinh hoạt. Đồng thời pháp luật cũng quy định rat rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến chất thải rắn sinh hoạt, từ các cơ quan quản lý nhà nước đến các tổ chức, cá nhân. Quản lý chất thải rắn sinh hoạt luôn là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật quản lý môi trường và nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội, của Nhà nước ta.