mở đầu cho cuộc cải cách sâu rộng, toàn diện BHXH nhằm mục đích xóa sự bao cấp của NSNN đối với BHXH, mở rộng diện bắt buộc không chỉ đối với công nhân, viên chức nhà nước như trước đây mà đối với tất cả người lao động hưởng lương, quy định tại nguồn thu chi, cơ câu nguôn thu dùng cho mỗi loại chế độ. 14 Việc cải cách và bảo đảm quyền BHXH cho người lao động thực sự đi vào thực tiễn khi hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành từ năm 1995. Cu thé: - Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ BHXH; - Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tô chức BHXH thuộc hệ thống Lao động — Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật của Nhà nước; - Quyết định số 606/Ttg ngày 26/9/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam; - Nghị định số 93/1998/NĐ-CP ngày 12/11/1998 của Chính phủ về việc sửa đổi, bố sung một số điều của Điều lệ BHXH (ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ). Như đã nêu trên, việc áp dụng BHXH của các quốc gia khác nhau thường cũng rất khác nhau về nội dung thực hiện, tùy thuộc vào nhu cầu bức bách riêng của từng quốc gia trong việc bảo đảm quyền được BHXH của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tai chính và khả năng quản lý có thê đáp ứng.
Có nước quan tâm thực hiện các chế độ đảm bảo cho các rủi ro dé xảy ra trước mat như chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, các nước khác lại quan tâm đến các chế độ đảm bảo cho tuổi già, tuôi hưu trí, cho cái chết. Hiện nay, việc quy định trách nhiệm bảo đảm quyền BHXH của người lao động ở Việt Nam được quy định tại Điều 168 chương XII Bộ luật Lao động năm 2021: Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN; người lao động được hưởng các chế độ theo 15 quy định của pháp luật về BHXH, BHYT và BHTN. Khuyến khích người sử dụng lao động, người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm khác đối với người lao động. Luật BHXH năm 2014 quy định về chế độ, chính sách BHXH; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tô chức, cá nhân có liên quan đến BHXH, t6 chức đại diện tập thé lao động, tô chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan BHXH; quỹ BHXH; thủ tục thực hiện BHXH va quan ly nhà nước vé BHXH.
Quy dinh cu thé các chế độ BHXH bat buộc bao gồm: ốm đau; thai sản; tại nạn lao động bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất. Nội dung của quyền được BHXH của người lao động - Các chính sách cơ bản của hệ thống ASXH: Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, diện bảo vệ và che chắn của hệ thống ASXH ngày càng được mở rộng, nội dung của ASXH ngày càng phong phú thì chính sách ASXH ngày càng cần thiết. Bởi vì, chỉ có những chính sách đúng đắn và hợp lòng dân thì việc tổ chức hê thống ASXH mới đảm bảo hiệu quả. Ngày nay, ASXH bao gồm rất nhiều thành tố khác nhau như: BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, các quỹ dự phòng.
Ngoài những thành tố cơ bản này, các nước còn triển khai các chương trình khác xoay quanh lĩnh vực ASXH như chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình trợ giúp pháp lý và các dịch vụ xã hội khác (BH và tiết kiệm, trợ giúp gia đình, trợ giúp người già và trẻ em mồ côi không nơi nương tựa. Dựa trên nhưng thành tố nêu trên, Chính phủ có thé ban hành từng chính sách cụ thé và riêng biệt dé có nhưng định hướng đúng đăn tô chức hệ thông ASXH. Sau đây là một số chính sách cơ bản: BHXH ra đời đầu tiên ở Đức cách đây hơn một thế kỷ và nay hầu hết các nước trên thế giới đều có chính sách BHXH. BHXH được hiểu là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần cho người lao động khi họ gặp rủi ro hoặc sự kiện BHXH làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở 16 hình thành và sự dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo ASXH.
Chính sách BHXH là chính sách xã hội chủ yếu do Chính phủ ban hành và tổ chức thực hiện. chính sách BHXH có mục tiêu chủ yếu là bảo vệ, che chắn cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp phải rủi ro (như: ốm đau, tai nạn.) hay các sự kiện BH (như: sinh đẻ, già yếu. Đặc điểm của loại chính sách này là: Được các nước luật hóa tương đối thống nhất trên cơ sở khuyến cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO); Chính sách BHXH liên quan trực tiếp đến người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH do Nhà nước đứng ra tô chức; Nội dung và phạm vi điều chỉnh của chính sách BHXH phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong một thời kỳ; BHXH là chính sách chủ yếu trong hệ thống các chính sách ASXH. Nó đóng vai trò điều tiết và có mói quan hệ chặt chẽ với chính sách khác trong hệ thống các chính sách liên quan đến ASXH.
Bảo đảm quyền được BHXH theo Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 1. Giới thiệu chung Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 theo Nghị quyết số 2200A ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào ngày 24/9/1982 - Điều 9, Công ước nêu rằng: “Cac quốc gia thành viên Công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng an sinh xã hội, ké cả bảo hiểm xã hội Tại Bình luận chung số 9 của Ủy ban giám sát thực hiện Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 đã làm rõ và cụ thể nội hàm của Điều 9 Công ước. Quyền được hưởng ASXH có vai trò trọng tâm trong việc bảo đảm nhân phẩm cho tất cả mọi người khi phải đối mặt với những hoàn cảnh mà không có năng lực tự mình bảo đảm day đủ các quyền theo Công ước. 17 - Quyền được ASXH bao gồm quyên tiếp cận và duy trì những trợ cấp, băng tiền mặt hoặc băng hiện vật, mà không có sự phân biệt đối xử dé bảo vệ con người trong các hoàn cảnh: + Thiếu thu nhập từ việc làm do bệnh tật, khuyết tật, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tuôi già, hoặc cái chết của một thành viên trong gia đình; + Không có khả năng chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; + Không đủ khả năng hỗ trợ gia đình, đặc biệt là đối với trẻ em và những người lớn sống phụ thuộc.
- ASXH, thông qua tính chất phân phối lại, đóng vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghéo, ngăn chặn sự loại trừ và day mạnh việc hòa nhập xã hội của các nhóm dễ bị tổn thương. - Theo Điều 2 (1), các quốc gia thành viên phải có các biện pháp hiệu quả, và định kỳ sửa đổi chúng khi cần thiết, trong phạm vi tối đa các nguồn lực sẵn có, dé thực hiện đầy đủ quyền của tất cả mọi người về ASXH, trong đó có BHXH, mà không có bat kỳ phân biệt đối xử nào. Diễn đạt trong Điều 9 Công ước chi ra răng các biện pháp cần được sử dụng dé cung cấp những lợi ích ASXH không thể được xác định theo nghĩa hẹp và trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cần phải đảm bảo cho mọi người dân được hưởng quyền con người này ở mức tôi thiêu. Các biện pháp đó có thé bao gồm: + Quy định cơ chế đóng BHXH bat buộc như được dé cập rõ ràng trong Điều 9.
Nó bao gồm các khoản đóng góp bắt buộc từ người lao động và người sử dụng lao động, và đôi khi của cả nhà nước; + Quy định các chương trình an sinh phổ cập mà người được hưởng không cần phải đóng góp (về nguyên tắc được áp dụng cho tất cả những người gặp rủi ro hay cần trợ giúp đặc biệt) hoặc các chương trình hỗ trợ xã hội có mục tiêu (trong đó những người có nhu cầu có thể được hưởng lợi ích). Ở hầu hết các quốc gia thành viên, cơ chế không phải đóng góp được áp dụng 18 vì không phải tat cả mọi người đều có thé được bảo hiểm day đủ từ hệ thông BHXH thông thường. - Cần khuyến khích những hình thức ASXH khác, bao gồm: + Chương trình của khối tư nhân; + Các cơ chế tự giúp hoặc các biện pháp khác, như dựa vào cộng đồng hoặc các giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, bất kỳ cơ chế nào cũng phải phù hợp với các yếu tố cơ bản của quyền ASXH và nhằm góp phần bảo vệ quyền này theo tinh thần của Bình luận chung số 09.
- Quyền được ASXH đã được khăng định rõ ràng trong luật pháp quốc tế. Các khía chạnh về quyền ASXH là quyền con người đã được nêu rõ ràng trong Tuyên bố Philadelphia năm 1944 trong đó kêu gọi mở rộng “các biện pháp ASXH dé cung cấp thu nhập cơ bản cho tat cả mọi người cần sự bảo vệ và cần sự chăm sóc V tế toàn diện”. ASXH cũng đã được công nhận như là một quyền con người trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, cụ thể, Điều 22 Tuyên ngôn quy định: “Tất cả mọi người, với tư cách là một thành viên của xã hội, đều có quyền ASXH” và tại Điều 25 trong đó nêu rằng tất cả mọi người có quyền “hưởng ASXH trong trường hợp thất nghiệp, ốm đau, khuyết tật, góa bụa, tuổi già hoặc thiếu kế sinh nhai trong những hoàn cảnh ngoài tầm kiểm soát của mình”. Quyền này sau đó đã được đưa vào nhiều Công ước quốc tế và khu vực khác về quyền con người.
Năm 2001, Hội nghị Lao động quốc tế bao gồm đại diện của các chính phủ, các tổ chức của người sử dụng lao động và người lao động đã khang định ASXH “là một quyền con người cơ bản và là phương tiện cơ bản dé tạo sự gắn kết xã hội”.