CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm và đặc trưng của vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội Theo Từ điển thuật ngữ luật học, NXB Bách Khoa thì “Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”. Bởi vậy, ta có thể hiểu vi phạm pháp luật là việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi nào đó của các chủ thể khi tham gia một quan hệ pháp luật làm phát sinh quyền và lợi ích của các bên, phát sinh thiệt hại do một bên chủ thể thực hiện các hành vi gây hậu quả xấu cho bên còn lại mà các quyền lợi đó được pháp luật quy định.Mác đã từng nói: “… ngoài hành vi của tôi ra, tôi không tồn tại đối với pháp luật, không phải là đối tượng của nó”.
Vì vậy, phải căn cứ vào hành vi thực tế của các chủ thể mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay viphạm pháp luật. Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động. Dựa trên khái niệm về vi phạm pháp luật, ta có thể đưa ra khái niệm về vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội như sau: vi phạm pháp luật BHXH là một dạng vi phạm pháp luật, trong đó các chủ thể (chủ sử dụng lao động, người lao động…) trong quan hệ BHXH thực hiện các hành vi vi phạm, các hành vi trái với các quy định của Luật BHXH trong việc thực hiện chế độ chính sách ngắn hạn, dài hạn của người lao động. Tại Việt Nam, các hành vi vi phạm được quy định cụ thể tại Điều 17 Luật BHXH số 58/2014/QH13 như sau: Các hành vi bị nghiêm cấm: 1.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp 2. Chậm đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 3. Chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 4. Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 5.
Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp không đúng pháp luật 9 6. Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, người sử dụng lao động 7. Truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 8. Báo cáo sai sự thật; cung cấp thông tin, số liệu không chính xác về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Các chủ thể thực hiện bất kỳ hành vi nào theo quy định của điều luật trên đều là những hành vi vi phạm pháp luật BHXH. Theo định nghĩa trên về vi phạm pháp luật, một hành vi có bị coi là vi phạm pháp luật khi xác định đầy đủ các yếu tố về chủ thể, năng lực hành vi của chủ thể, dấu hiệu lỗi, dấu hiệu vi phạm các quy định của pháp luật. Do vậy vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội cũng là một dạng của vi phạm pháp luật nên nó cũng bao gồm những đặc trưng như sau: Vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội phải là hành vi xác định của con người, là các xử sự thực tế; cụ thể là các cá nhân và tổ chức nhất định khi tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội. Ví dụ, đơn vị sử dụng lao động thỏa thuận với người lao động không tham gia BHXH.
Vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội phải là hành vi trái pháp luật là hành vi xử sự trái với các yêu cầu của pháp luật về Bảo hiểm xã hội được thể hiện qua việc vi phạm các quy định về đóng bảo hiểm xã hội, vi phạm các quy định về lập hồ sơ để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội… Vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội phải là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý, vì hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng của chủ thể không có năng lực trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật. Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Theo quy định của pháp luật, chủ thể là cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường. Đó là độ tuổi mà sự phát triển về trí lực và thể lực đã cho phép chủ thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Chủ thể là tổ chức sẽ có khả năng này khi được thành lập hoặc được công nhận. 10 Vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội phải là hành vi có lỗi của chủ thể khi tham gia quan hệ do pháp luật về bảo hiểm xã hội quy định. Khi thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật này thì chủ thể thực hiện nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó, đồng thời hiểu được hành vi của mình.Còn trong trường hợp chủ thể thực hiện một xử sự có tính chất trái pháp luật nhưng chủ thể không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hànhviđó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được hành vi và hậu quả của hành vi của mình nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là có lỗi và không phải là vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo hiểm xã hội xác nhận và bảo vệ.
Tức là hành vi này làm biến đổi trạng thái bình thường của các quan hệ xã hội hay làm biến dạng xử sự là nội dung của quan hệ pháp luật đó.Một cách khái quát, những gì mà pháp luật BHXH không cấm, không xác lập và bảo vệ thì dù có làm trái, có xâm hại cũng không bị coi là vi phạm pháp luật BHXH. Cấu thành của vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội Cấu thành vi phạm pháp luật là những dấu hiệu đặc trưng của một vi phạm pháp luật cụ thể. Mỗi vi phạm pháp luật sẽ có cấu thành riêng, tuy nhiên mọi hành vi vi phạm pháp luật bao gồm bốn yếu tố cấu thành: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm pháp luật.
Nó bao gồm các yếu tố: hành vi trái pháp luật, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật. Nó bao gồm các yếu tố: lỗi, động cơ, mục đích vi phạm pháp luật. Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý và đã thực hiện hành vi trái pháp luật.
Khách thể của vi phạm pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hại tới. 11 Như vậy, cấu thành của vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội bao gồm: * Chủ thể vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội Chủ thể thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật BHXH bao gồm: - Chủsử dụng lao động - Người lao động -Cơ quan BHXH Các chủ thể này thực hiện hành vi do lỗi cố ý hay vô ý các hành vi trái với các quy định của pháp luật BHXH; gây thiệt hại cho bên thứ hai trongquan hệ BHXH hay bên thứ ba - Nhà nước thì đều cấu thành vi phạm pháp luật BHXH. * Chủ sử dụng lao động Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Bộ luật lao động 10/2012/QH13 thì "Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ". Người sử dụng lao động là cá nhân cụ thể phải có năng lực hành vi đầy đủ hoặc người sử dụng lao động đại diện cho doanh nghiệp, là một bên trong quan hệ pháp luật BHXH; ký kết hợp đồng lao động với người lao động, quản lý lao động, thực hiện các quy định pháp luật về BHXH.
Vậy người sử dụng lao động vi phạm pháp luật BHXH là người thực hiện các hành vi sai phạm sau đây: - Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp - Chậm đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp - Chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp - Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp - Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, người sử dụng lao động -Truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp -Báo cáo sai sự thật; cung cấp thông tin, số liệu không chính xác về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. 12 Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định trên trong việc tuyển dụng, quản lý và sử dụng lao động của chủ sử dụng lao động đều là cấu thành của vi phạm pháp luật về BHXH. * Người lao động Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động10/2012/QH13 thì "Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động". Như vậy, trong quan hệ lao động các cá nhân có đủ độ tuổi từ 15 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có thể tự nguyện tham gia vào quan hệ lao động.
Khi tham gia vào quan hệ này thì các cá nhân được hưởng các quyền lợi về lương, về điều kiện lao động,v.v…đồng thời cũng chịu sự quản lý và điều hành của chủ sử dụng lao động.