phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát chi Bảo hiểm xã hội trong cơ quan Bảo hiểm xã hội Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát chi bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm soát chi bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện An Lão, tỉnh Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái quát về kiểm soát trong công tác quản lý 1.
Khái niệm và mục tiêu kiểm soát 1. Khái niệm Kiểm soát là chức năng quan trọng của nhà quản lý nhằm thu thập thông tin về các quá trình, hiện tƣợng đang diễn ra trong một tổ chức. Tính chất quan trọng của kiểm soát đƣợc thể hiện ở cả hai mặt. Một mặt, kiểm soát là công cụ quan trọng để nhà quản lý phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh.
Mặt khác, thông qua kiểm soát, các hoạt động sẽ đƣợc thực hiện tốt hơn và giảm bớt đƣợc sai sót có thể nảy sinh. Thông thƣờng, ngƣời ta chỉ nhấn mạnh đến ý nghĩa thứ nhất (phát hiện sai sót) của kiểm soát vì cho rằng mọi hoạt động đều không tránh khỏi sai sót và kiểm soát là bƣớc cuối cùng để hạn chế tình trạng này. Điều đó đúng, nhƣng chƣa đủ, vì trong thực tế, kiểm soát có tác động rất mạnh đến các hoạt động. Một công việc, nếu không có kiểm soát sẽ chắc chắc nảy ra nhiều sai sót hơn nếu đƣợc theo dõi, giám sát thƣờng xuyên.
Điều đó khẳng định rằng kiểm soát không chỉ là giai đoạn cuối cùng trong quá trình hoạt động của hệ thống hoặc là khâu sau cùng của chu trình quản lý (từ lập kế hoạch đến tổ chức lãnh đạo). Kiểm tra cũng không phải là hoạt động đan xen mà là một quá trình liên tục về thời gian và bao quát về không gian. Nó là yếu tố thƣờng trực của nhà quản lý ở mọi lúc, mọi nơi. Nhƣ vậy, chức năng quản lý của hoạt động kiểm soát là giám sát, đo lƣờng và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm để đảm bảo rằng các mục tiêu của tổ chức và các kế hoạch vạch ra để đạt tới các mục tiêu này đã và đang đƣợc hoàn thành.
Nhiều nhà quản lý, đặc biệt là ở cấp thấp thƣờng cho rằng trách nhiệm đầu tiên đối với thực hiện kiểm soát thuộc về các nhà quản lý cấp cao, còn họ thƣờng quan tâm nhiều đến việc thực thi kế hoạch. Đôi khi, do quyền 8 lực của nhà quản lý cấp cao và trách nhiệm tổng hợp của họ, việc kiểm soát cấp cao nhất và các cấp phía trên đƣợc nhấn mạnh tới mức mà mọi ngƣời cho rằng ở các cấp dƣới chỉ cần công việc kiểm soát ít mà thôi. Mặc dầu quy mô của việc kiểm soát thay đổi theo cấp bậc của các nhà quản lý, nhƣng tại mọi cấp, các nhà quản lý đều phải có trách nhiệm đối với việc thực thi các kế hoạch, và do đó kiểm soát là một chức năng quản lý cơ bản ở mọi cấp. Vì vậy, có thể khái quát rằng: Kiểm soát là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo sự thực hiện theo kế hoạch.
Bản chất của kiểm soát - Kiểm soát là việc xây dựng các chính sách, thủ tục, các bƣớc kiểm soát do lãnh đạo đơn vị xây dựng có tính chất bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong đơn vị, thiết lập mục tiêu cần đạt đến, xây dựng các hoạt động và thủ tục để nắm bắt và điều hành hoạt động của đơn vị nhằm đảm bảo thực hiện đƣợc mục tiêu đã định. - Kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. - Kiểm soát trong quản lý là việc thực hiện đối chiếu kết quả đạt đƣợc với những quy phạm, quy định chung, với kế hoạch để từ đó đánh giá, điều chỉnh làm cho quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý có hiệu quả, hiệu lực hơn nhằm đạt đƣợc mục tiêu đƣợc lập từ trƣớc. - Kiểm soát có phạm vi rất rộng, có liên quan đến mọi lĩnh vực hoạt động của đơn vị cả lĩnh vực kinh tế, tài chính và phi tài chính bao gồm cả kiểm soát nội bộ và bản thân con ngƣời cùng với những phƣơng tiện có tính chất kỹ thuật, cấu trúc hƣớng vào kiểm soát mang tính bền vững, ổn định, đảm bảo và lâu dài.
- Các đơn vị phải có trách nhiệm xây dựng, duy trì một hệ thống kiểm soát khoa học, phù hợp và hiệu quả để đảm bảo kiểm soát hoạt động trong 9 phạm vi đơn vị, ngăn ngừa sai phạm, đạt đƣợc mục tiêu, yêu cầu mà đơn vị đặt ra. Tuy nhiên, một hệ thống kiểm soát có khoa học và hiệu lực, hiệu quả đến đâu cũng luôn có những hạn chế cố hữu hay hạn chế vốn có của nó không thể tránh khỏi. Mục tiêu kiểm soát Mỗi đơn vị thƣờng có các mục tiêu kiểm soát cần đạt đƣợc, để từ đó xác định các chiến lƣợc cần thực hiện, có thể là mục tiêu chung của toàn đơn vị hay là mục tiêu cụ thể nào đó cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị. Có thể chia các mục tiêu kiểm soát của đơn vị cần thiết lập thành 3 nhóm: - Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động của cơ quan tổ chức bao gồm việc sử dụng nguồn lực, lập dự toán.
Mục tiêu hoạt động là đạt mục tiêu cụ thể đã đƣợc thiết lập trong mối quan hệ đánh giá tổng thể (Mỗi mục tiêu cụ thể đều đạt đƣợc nhƣng mục tiêu hoạt động chung có thể không đạt đƣợc); Khai thác, sử dụng tối ƣu (kinh tế, hiệu quả, an toàn) các nguồn lực. - Nhóm mục tiêu về báo cáo: nhấn mạnh đến tính trung thực, kịp thời và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà đơn vị, tổ chức cung cấp. Mục tiêu này dựa trên những yêu cầu, kỳ vọng của đơn vị, tổ chức. - Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định.
Cho nên, mục tiêu này phụ thuộc chủ yếu cách thức tổ chức các hoạt động nằm trong sự kiểm soát của đơn vị, tổ chức. Tăng cƣờng tính hiệu lực về mặt điều hành, hiệu năng quản lý, hiệu quả kinh doanh của đơn vị (quyết định quản lý phù hợp và hiệu lực, quản lý phải đem lại kết quả; kinh doanh phải thu đƣợc lợi nhuận cao). Việc “bảo đảm” cho những mục đích trên đây của hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ là sự bảo đảm hợp lý theo từng góc độ nhìn nhận và từng giai đoạn cụ thể chứ không thể là bảo đảm tuyệt đối ở mọi góc độ và mọi giai đoạn. Quy trình kiểm soát Quy trình kiểm soát là việc cố gắng một cách có hệ thống để xác định các tiêu chuẩn so với mục tiêu kế hoạch, thiết kế hệ thống thông tin phản hồi, so sánh sự thực hiện với các tiêu chuẩn, xác định và đo lƣờng mức độ sai lệch và thực hiện việc điều chỉnh để đảm bảo rằng mọi nguồn lực đã sử dụng một cách có hiệu quả nhất trong việc thực hiện mục tiêu.
Đó là khâu cuối cùng trong một chuỗi các hoạt động của nhà quản trị, là cách duy nhất để nhà quản trị biết đƣợc họ có đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra trƣớc đó hay không, cũng nhƣ lý do tại sao đạt đƣợc mục tiêu hoặc không đạt đƣợc mục tiêu so với tiêu chuẩn mà nhà quản lý đã xây dựng. Muốn vậy nhà quản lý cần phải đánh giá, phân tích các nguyên nhân và có điều chỉnh mục tiêu kiểm soát cho phù hợp. Trình tự quy trình kiểm soát thể hiện nhƣ sau: Bƣớc 1: Xác định mục tiêu kiểm soát (tổng hợp và chi tiết) Bƣớc 2: Xây dựng tiêu chuẩn kiểm soát Bƣớc 6: Phân tích nguyên nhân Bƣớc 3: Đo lƣờng kết quả thực hiện chênh lệch và điều Bƣớc 4: So sánh kết quả với chỉnh tiêu chuẩn Bƣớc 5: Đánh giá lại kết quả, đƣa ra hành động quản lý tiếp theo Sơ đồ 1.1: Trình tự của quy trình kiểm soát (Nguồn Quyết định số 1456/QĐ-BHXH ngày 01 tháng 12 năm 2015 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Ở Bƣớc 1 và Bƣớc 2: Xác định tiêu chuẩn kiểm soát. Nhà quản lý cần lƣu ý: Tiêu chuẩn kiểm soát tạo ra các “mốc” cần thiết để đánh giá xem 11 những công việc đã/sẽ diễn ra có còn ở trong giới hạn cho phép hay không.
Ngoài ra, một tổ chức thừ có rất nhiều loại tiêu chuẩn kiểm soát khác nhau. Các tiêu chuẩn kiểm soát đề ra cần phải hợp lý và có khả năng thực hiện đƣợc trên thực tế. Ở Bƣớc 3 đến Bƣớc 5: Đo lƣờng và đánh giá việc thực hiện: Việc đo lƣờng kết quả thực hiện kế hoạch trên thực tế cần phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản: Phải dựa trên các tiêu chuẩn đặt ra; Phải đảm bảo tính khách quan; Ở Bƣớc 6: Phân tích nguyên nhân chênh lệch và điều chỉnh. Việc điều chỉnh có thể tiến hành theo các hƣớng; Điều chỉnh kế hoạch, thay đổi mục tiêu, hoàn thiện lại cơ cấu tổ chức, lựa chọn bố trí lại nhân sự, tăng cƣờng huấn luyện, bồi dƣỡng nhân viên,… 1.
Khái quát về hoạt động chi bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội và chi Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội Căn cứ theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định khái niệm bảo hiểm xã hội nhƣ sau: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của ngƣời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Các yếu tố cấu thành các chế độ bảo hiểm xã hội - Đối tƣợng đƣợc hƣởng bảo hiểm xã hội; - Điều kiện đƣợc hƣởng bảo hiểm xã hội; - Mức hƣởng và thời hạn hƣởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Các loại hình Bảo hiểm xã hội: - Bảo hiểm xã hội bắt buộc: Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nƣớc tổ chức mà ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động phải tham gia.