CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TẠI KBNN CẤP TỈNH 1. TỔNG QUAN VỀ CNTT 1. Khái niệm CNTT Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT (tiếng Anh: Information Technology hay là IT), thuật ngữ này xuất hiện khoảng những năm 70 của thế kỷ XX. Thuật ngữ này thực chất gắn liền với sự phát triển của máy vi tính (computer).
Máy vi tính là thiết bị điện tử cho phép lập chương trình, tính toán hay vận hành logic với tốc độ cao hoặc thu thập, lưu giữ, liên kết, xử lý thông tin. Ở Việt Nam, khái niệm CNTT cũng đã được đưa ra đầu tiên trong Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 của Chính phủ về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90” [6]; Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH”, là cơ sở cho sự ra đời của Luật Công nghệ thông tin, được Quốc Hội thông qua ngày 29/6/2006 theo Nghị quyết số 67/2006/QH11 [2] - đây là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT của đất nước; Nghị định số 71/2007/NĐ-CP, ngày 03/5/2007 về quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật CNTT về công nghiệp CNTT [11]; … Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, công nghệ thông tin được hiểu theo khái niệm CNTT của Luật CNTT năm 2006. Trong Luật CNTT năm 2006 [29]: “Công nghệ thông tin (CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là máy tính và các mạng viễn thông - nhằm cung cấp các giải pháp tổng thể để tổ chức, khai thác, và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. Đặc điểm của CNTT 1.
Ngành công nghệ mũi nhọn Công nghệ thông tin là ngành công ngệ mũi nhọn, công nghệ mũi nhọn ở đây được hiểu là ngành công nghệ được xây dựng dựa trên thành quả của nhiều công nghệ khác và của những lý thuyết khoa học hiện đại. Mặt khác, đặc điểm của công nghệ mũi 4 nhọn là luôn luôn nặng nề về tri thức. Vì vậy, để phát triển CNTT luôn cần nguồn nhân lực có trình độ cao, ứng dụng cần phải thực hiện từng bước phù hợp với lợi thế riêng. Phát triển CNTT không chỉ là động lực cho riêng các doanh nghiệp trong ngành, mà còn là lực đẩy cho toàn nền kinh tế, giúp các lĩnh vực, ngành nghề khác trong xã hội hiện đại hóa, phát triển mạnh.
Chính vì vậy mà CNTT đã trở thành một công cụ, một nền tảng cho phương thức lao động mới của toàn bộ xã hội, thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực, khía cạnh của đời sống. Ngành có tốc độ phát triển nhanh Trong lịch sử phát triển của nhân loại chưa có ngành khoa học, công nghệ nào có tốc độ phát triển nhanh như CNTT. CNTT bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1970, tuy nhiên đến thập niên 1990 ngành CNTT mới thật sự phát triển và phát triển tốc độ rất nhanh. Những tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin diễn tiến liên tục, công nghệ cứ thay đổi liên tục có thể tính từng giây.
Thế giới ghi nhận từ thập niên 1990 ñến nay, tốc độ phát triển trung bình hàng năm của ngành duy trì từ 8%-10% và cao gấp 1,5 lần sự phát triển kinh tế của thế giới (Research Report of Shanghai Research Center, 2004). Ở Việt Nam, công nghệ thông tin luôn là ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất, đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng GDP và ngân sách nhà nước. Tại Diễn đàn Cấp cao Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam 2013 diễn ra sáng 20/6, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Hơn 10 năm qua, công nghệ thông tin đã trở thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp trực tiếp gần 7% GDP, và là một lợi thế phát triển đặc biệt của Việt Nam”. Với sự phát triển như vũ bão của CNTT, các ngành, các cấp cần lưu ý khi lựa chọn các giải pháp về công nghệ.
Nếu không thì việc đầu tư hay định hướng sai sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư và gây lãng phí lớn. Vòng đời sản phẩm ngắn Với tốc độ phát triển rất nhanh của CNTT đã mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực, tại Việt Nam đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ, thực sự trở thành một phần quan trọng của hạ tầng kinh tế quốc dân, đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển nhanh nên sản phẩm CNTT thường có vòng đời ngắn. Theo Hiệp hội Nghiên cứu Máy tính 5 của Mỹ (Computing Research Association – CRA, 1999), vòng đời của sản phẩm công nghệ thông tin thường chỉ có 2 năm và tối đa là 4 năm thì các sản phẩm CNTT đã bị xem là lạc hậu.
Vì vậy đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, khi đầu tư hay định hướng các giải pháp công nghệ cần lưu ý đến đặc điểm này của CNTT để tránh lãng phí, làm ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Tính tích hợp cao Ngày nay, ngành CNTT đã phát triển rất mạnh và thâm nhập sâu vào cuộc sống, vào hoạt động của các ngành khác. Bất cứ đâu cũng có thể thấy sự hiện diện của CNTT. Có thể là chiếc điện thoại với rất nhiều phần mềm được cài sẵn bên trong hay hệ thống làm việc của máy rút tiền ATM,.
Cứ như vậy, từ ngân hàng, tài chính, kho bạc, tới hàng không; từ viễn thông tới cả những lĩnh vực như an ninh quốc phòng, ở đâu ứng dụng của CNTT cũng vô cùng quan trọng. Với khả năng số hóa thông tin, xử lý và tái tạo thông tin, CNTT trở thành một công cụ, một nền tảng cho phương tiện lao động mới được sử dụng cho các ngành công nghệ khác. CNTT có thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của các lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, … cũng có thể tham gia vào quá trình quản lý, điều hành. Bên cạnh đó CNTT cũng tạo ra nhiều ngành kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại và tăng khả năng cạnh tranh của các ngành.
Chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao CNTT là ngành công nghệ cao, là ngành công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có. Do đó, phát minh và cải tiến thường xuyên là một trong những đặc điểm quan trọng của ngành CNTT. Tuy nhiên chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển của ngành lại rất cao. CNTT là ngành khoa học có thể ứng dụng cho mọi lĩnh vực Điểm nổi bật của CNTT là khả năng số hóa thông tin, tổ chức, lưu trữ thông tin trên diện tích nhỏ, khả năng truy xuất, xử lý thông tin một cách nhanh chóng, chính 6 xác và khả năng tái tạo thông tin, kết hợp nhiều loại thông tin, phương tiện với nhau mà những ngành công nghệ khác thường không có; CNTT trở thành công cụ, phương tiện cho các công nghệ, lĩnh vực, ngành nghề khác.
CNTT có thể tham gia trực tiếp vào trong quá trình sản xuất của các lĩnh vực như: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, hoặc tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành của các hệ thống thông tin, hệ thống lãnh đạo,. CNTT còn tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành nghề thông qua hệ thống thương mại điện tử, dịch vụ truyền thông đa phương tiện. Vai trò của CNTT CNTT đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội trong thời đại ngày nay. CNTT đã trở thành nhân tố quan trọng, là cầu nối trao đổi giữa các thành phần của xã hội toàn cầu, của mọi vấn đề.
Việc nhanh chóng đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực hoạt động là vấn đề đang, đã và sẽ luôn được quan tâm bởi lẽ CNTT ảnh hưởng tới hầu hết mọi ngành còn lại, không chỉ giúp giải quyết lượng thông tin khổng lồ một cách nhanh chóng, tạo ra nhiều loại hình công việc mới mà còn tạo một bước ngoặt mới cho sự phát triển của xã hội, kéo theo sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Vai trò của CNTT đối với kinh tế, văn hoá và xã hội Trong cuộc sống tất bật hiện nay, mọi việc đều được đơn giản và tối ưu hóa thời gian thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin vào xử lý các công việc hàng ngày. Công nghệ thông tin giờ đây đã có mặt ở nhiều phương diện trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, từ thương mại đến giải trí và thậm chí cả văn hóa, xã hội và giáo dục. Ngày nay, máy tính để bàn, máy tính xách tay, thiết bị cầm tay, thư điện tử và việc sử dụng Internet đã trở thành tâm điểm trong văn hóa và cộng đồng của chúng ta, là cầu nối không thể tách rời trong nhịp sống toàn cầu hóa.
Do đó, công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Sự phát triển của CNTT, trước hết đã làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động kinh tế, sau đó tác động đến hoạt động của các khu vực khác trong nền kinh tế như : khu vực chế tạo, chế biến và dịch vụ, quản lý nhà nước … CNTT không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, mà còn kéo theo sự biến đổi trong phương thức sáng tạo của cải, trong lối sống và tư duy của con người. Sự kết hợp giữa CNTT, công nghệ viễn 7 thông và công nghệ Internet đã trở thành công cụ đắc dụng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và doanh nghiệp. Môi trường trao đổi thông tin đa truyền thông đa phương tiện do sự kết hợp đó đã xóa bỏ các rào cản về mặt vật lý, địa lý; biến đổi cách thức giao tiếp đến cách sử dụng thông tin, biến đổi bản chất thương mại, bản chất của công việc và thay đổi cách thức chăm sóc y tế và giáo dục.