Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới kinh tế sau hơn 15 năm tái lập tỉnh, tỉnh Hậu Giang đã chủ động huy động mọi nguồn lực tài chính xã hội hóa nhằm đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật và giao thông đồng bộ. Nhằm tạo dựng công cụ tài chính công đắc lực, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang đã ban hành Quyết định số 1569/QĐ-UBND ngày 30 tháng 7 năm 2012 thành lập Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Hậu Giang trên cơ sở chuyển đổi từ Quỹ Phát triển đất, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 8 năm 2012 với số vốn điều lệ ban đầu là 110 tỷ đồng.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để dung hòa giữa sứ mệnh phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương phi lợi nhuận với yêu cầu bảo toàn, tăng trưởng vốn và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Hoạt động của đơn vị đứng trước thách thức lớn khi phải giải quyết khoản nợ tồn đọng kéo dài hơn 21,3 tỷ đồng từ giai đoạn trước, đồng thời phải chuẩn bị các điều kiện để đáp ứng yêu cầu nâng vốn điều lệ lên mức tối thiểu 300 tỷ đồng theo quy định tại Nghị định số 147/2020/NĐ-CP của Chính phủ.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng hoạt động kinh doanh giai đoạn 2016 - 2020, khảo sát các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Hậu Giang đến năm 2025. Nghiên cứu giới hạn phạm vi tại địa bàn tỉnh Hậu Giang với dữ liệu thứ cấp thu thập liên tục 5 năm và cập nhật đến tháng 7 năm 2021. Ý nghĩa thực tiễn được đo lường qua sự tăng trưởng vốn chủ sở hữu từ 110,232 tỷ đồng năm 2016 lên 179,612 tỷ đồng năm 2020, cùng sự gia tăng quy mô dư nợ cho vay đạt 56,515 tỷ đồng vào cuối chu kỳ nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết quản lý tài chính doanh nghiệp kết hợp với lý thuyết tổ chức tài chính công phi ngân hàng. Luận văn làm rõ 4 khái niệm nền tảng: Quỹ đầu tư phát triển địa phương, Hiệu quả kinh doanh của tổ chức tài chính nhà nước, Lợi nhuận tích lũy và Năng lực tài chính tự chủ.

Theo Nghị định số 138/2007/NĐ-CP và sau này là Nghị định số 147/2020/NĐ-CP, Quỹ đầu tư phát triển địa phương là định chế tài chính nhà nước ngoài ngân sách do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, thực hiện chức năng huy động vốn, đầu tư trực tiếp, cho vay và nhận ủy thác quản lý vốn. Hiệu quả kinh doanh được định nghĩa là tương quan so sánh giữa kết quả đầu ra thu được với tổng hợp các nguồn lực đầu vào đã tiêu hao. Đối với định chế tài chính này, chỉ tiêu đo lường trọng yếu là mức lợi nhuận tăng thêm bình quân hàng năm nhằm bảo toàn và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu.

Khung phân tích của đề tài kế thừa mô hình đánh giá 3 trụ cột của Frank P. Johnson năm 1985 về tối đa hóa thu nhập tín dụng, kiểm soát chi phí hoạt động và nâng cao năng lực quản trị. Đồng thời, nghiên cứu tiếp thu mô hình đánh giá tổ chức tài chính của Rose năm 2008 và các công trình nghiên cứu của Nguyễn Quốc Tuấn năm 2010, Phạm Anh Dũng năm 2008 để xác lập hệ thống 11 nhóm nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh, bao gồm: khuôn khổ pháp lý, chất lượng nhân lực, năng lực tài chính, chi phí hoạt động, lãi suất, khách hàng vay vốn, chất lượng nợ, tính liên kết, chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học. Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên giai đoạn 2016 - 2020 và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi chuẩn hóa theo thang đo Likert 5 mức độ từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý.

Quy mô mẫu khảo sát gồm 50 đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện có định hướng, phân bổ cụ thể: 10 cán bộ lãnh đạo Quỹ chiếm tỷ lệ 20%, 20 nhân viên nghiệp vụ chiếm tỷ lệ 40%, và 20 đại diện các doanh nghiệp, tổ chức có quan hệ giao dịch tín dụng chiếm tỷ lệ 40%. Ngoài ra, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 10 chuyên gia và cán bộ chủ chốt để hoàn thiện thang đo.

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, so sánh số tuyệt đối - số tương đối và phân tích diễn giải là vì phương pháp này cho phép đánh giá chuẩn xác xu hướng biến động doanh thu, chi phí và lợi nhuận qua các năm, đồng thời làm rõ mối quan hệ định lượng giữa cấu trúc vốn và năng lực sinh lời trong môi trường tài chính công. Tiến trình nghiên cứu được triển khai từ tháng 5 năm 2021 đến tháng 10 năm 2021, với giai đoạn tập trung thu thập số liệu sơ cấp từ tháng 5 năm 2021 đến tháng 7 năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô vốn chủ sở hữu của Quỹ duy trì đà tăng trưởng liên tục và vững chắc qua từng năm. Năm 2016, vốn chủ sở hữu đạt 110,232 tỷ đồng với mức chênh lệch thu chi sau thuế là 622 triệu đồng. Đến năm 2018, quy mô này tăng lên 147,056 tỷ đồng với lợi nhuận sau thuế đạt 23,074 tỷ đồng, và đạt mức 179,612 tỷ đồng vào cuối năm 2020, tương ứng mức tăng trưởng 62,94% so với năm 2016. Vốn điều lệ thực tế được ghi nhận bổ sung đạt 178 tỷ đồng.

Thứ hai, hoạt động đầu tư trực tiếp vào các dự án hạ tầng đô thị tạo ra bước đột phá vượt bậc về doanh thu và lợi nhuận trong giai đoạn 2017 - 2019. Năm 2017, dự án Khu đô thị Nguyễn Huệ giai đoạn 1 với quy mô 4,1 ha và tổng mức đầu tư 53 tỷ đồng đã mang về doanh thu 59,4 tỷ đồng, giúp tổng doanh thu toàn Quỹ đạt 63,5 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 17,604 tỷ đồng. Tiếp đà thành công, dự án Khu đô thị Nguyễn Huệ giai đoạn 2 với quy mô 5,6 ha và tổng mức đầu tư 80 tỷ đồng đã đưa tổng doanh thu năm 2019 đạt đỉnh hơn 95 tỷ đồng, mang lại lợi nhuận kỷ lục 42,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, doanh thu đấu giá đất sụt giảm mạnh khiến tổng doanh thu giảm còn 11,589 tỷ đồng và lợi nhuận chỉ đạt 2,886 tỷ đồng.

Thứ ba, hoạt động cho vay đầu tư mở rộng ổn định và từng bước đa dạng hóa đối tượng khách hàng. Tổng dư nợ cho vay tăng từ 49,411 tỷ đồng năm 2016 lên 56,515 tỷ đồng năm 2020, tương đương mức tăng 14,37%. Quỹ đã dịch chuyển cơ cấu cho vay từ tập trung vào Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh với mức 32,901 tỷ đồng năm 2016 giảm xuống còn 21,369 tỷ đồng năm 2020, mở rộng cấp vốn cho khối kinh tế tư nhân như Doanh nghiệp tư nhân Thuận Phát với 6,450 tỷ đồng, Hợp tác xã Quốc Thiên với 6,363 tỷ đồng, Công ty Năng lượng Hưng Thịnh Solar với 6,000 tỷ đồng, Công ty Chợ nông sản xuất khẩu Hậu Giang với 8,000 tỷ đồng và Công ty Đức Nghĩa với 8,333 tỷ đồng.

Thứ tư, Quỹ đối mặt với nút thắt thanh khoản từ khoản nợ ứng vốn cũ chuyển giao từ Quỹ phát triển đất. Trong tổng số 31,2 tỷ đồng nợ đọng năm 2019, Quỹ mới chỉ thu hồi được 9,89 tỷ đồng, còn lại 21,3 tỷ đồng vẫn chưa thể thu hồi tính đến giữa năm 2021 do các đơn vị nhận vốn xin gia hạn nhiều lần.

Thảo luận kết quả

Thành tựu tăng trưởng lợi nhuận giai đoạn 2017 - 2019 khẳng định sự đúng đắn trong chiến lược tận dụng lợi thế quỹ đất và năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân sự với 90,3% có trình độ đại học và sau đại học (28 trên tổng số 31 nhân sự). Tuy nhiên, cú sốc sụt giảm doanh thu năm 2020 bộc lộ tính tổn thương cao khi nguồn thu phụ thuộc lớn vào việc đấu giá quyền sử dụng đất. Thêm vào đó, việc Luật Đấu thầu quy định các dự án có sử dụng đất phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đã khiến Quỹ gặp khó khăn pháp lý khi tham gia đầu tư trực tiếp bằng nguồn vốn nhà nước.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với nhận định của Trần Quốc Hiệp năm 2015 về việc các quỹ đầu tư phát triển địa phương dễ bị hạn chế về khả năng huy động vốn thị trường và chức năng tư vấn tài chính còn yếu. Đồng thời, kết quả này củng cố luận điểm của Tô Ngọc Hưng năm 2012 và Frank P. Johnson năm 1985 rằng tổ chức tài chính muốn phát triển bền vững phải thiết lập cơ cấu thu nhập cân bằng, tránh phụ thuộc vào một nguồn thu đơn lẻ và chủ động kiểm soát chi phí vận hành.

Diễn biến tài chính của Quỹ có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ dạng cột kết hợp đường phân tích xu hướng, trong đó các cột thể hiện quy mô tổng doanh thu (đạt đỉnh 95 tỷ đồng năm 2019 và giảm xuống 11,589 tỷ đồng năm 2020), đường biểu diễn minh họa lợi nhuận sau thuế và biên lợi nhuận ròng. Song song đó, bảng cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế sẽ minh họa rõ sự chuyển dịch tích cực với 62,19% tỷ trọng vốn tín dụng năm 2020 đã được phân bổ cho các doanh nghiệp và hợp tác xã ngoài quốc doanh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao năng lực vốn điều lệ và đa dạng hóa nguồn vốn huy động. Hội đồng Quản lý Quỹ cần tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang xây dựng đề án bổ sung vốn điều lệ từ nguồn tích lũy hoạt động và ngân sách địa phương để nâng mức vốn từ 178 tỷ đồng hiện nay đạt chuẩn tối thiểu 300 tỷ đồng theo Nghị định số 147/2020/NĐ-CP trong giai đoạn 2022 - 2024. Đồng thời, Quỹ cần chủ động tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi từ tổ chức tài chính quốc tế và phát hành trái phiếu địa phương nhằm nâng tỷ lệ vốn huy động thêm 15% mỗi năm.

Thứ hai, đa dạng hóa sản phẩm cho vay và thúc đẩy tín dụng xanh. Phòng Tín dụng cần chủ động tiếp cận các dự án năng lượng tái tạo, xử lý rác thải đô thị, hạ tầng cụm công nghiệp nông thôn và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Mục tiêu đặt ra là nâng tổng dư nợ cho vay từ mức 56,515 tỷ đồng năm 2020 lên đạt 100 tỷ đồng vào năm 2025, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức dưới 1,5% toàn danh mục.

Thứ ba, xử lý dứt điểm nợ đọng và tái cấu trúc nguồn vốn ứng. Ban Giám đốc Quỹ cần phối hợp chặt chẽ với Sở Tài chính và các đơn vị liên quan thiết lập hội đồng xử lý nợ, ban hành lộ trình cam kết thu hồi dứt điểm 21,3 tỷ đồng nợ tồn đọng từ Quỹ phát triển đất cũ trong giai đoạn 2022 - 2023 nhằm khơi thông dòng vốn nhàn rỗi phục vụ cho vay quay vòng.

Thứ tư, hiện đại hóa công nghệ quản lý và chuẩn hóa quy trình thẩm định. Phòng Thẩm định - Tổng hợp và Phòng Tài chính Kế toán cần hoàn thành số hóa 100% hồ sơ dự án, áp dụng phần mềm quản lý tín dụng chuyên biệt trong năm 2022. Quỹ cần triển khai các khóa đào tạo thẩm định rủi ro cho 31 cán bộ nhân viên, phấn đấu rút ngắn thời gian thẩm định giải ngân từ 15 ngày xuống còn dưới 7 ngày làm việc.

Thứ năm, đổi mới mô hình đầu tư trực tiếp phù hợp hành lang pháp lý. Quỹ cần chủ động chuyển hướng tham gia đầu tư các dự án tái định cư, nhà ở xã hội và hợp tác kinh doanh theo hợp đồng hợp tác đầu tư không hình thành pháp nhân mới, đảm bảo mang lại nguồn thu ổn định tối thiểu 30 tỷ đồng mỗi năm trong giai đoạn 2023 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Ban Lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ tại 30 quỹ đầu tư phát triển địa phương trên toàn quốc. Luận văn cung cấp case study thực tiễn về mô hình triển khai 2 dự án khu đô thị quy mô 4,1 ha và 5,6 ha, cùng phương pháp cân đối dòng tiền khi chuyển đổi mô hình hoạt động theo các nghị định mới của Chính phủ.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tài chính và Bộ Tài chính. Công trình là căn cứ thực chứng sinh động giúp các nhà hoạch định chính sách đánh giá tác động thực tế của quy định mức vốn điều lệ tối thiểu 300 tỷ đồng và cơ chế đấu thầu dự án sử dụng đất đối với các quỹ tài chính ngoài ngân sách.

Nhóm thứ ba là cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hợp tác xã và chủ đầu tư hạ tầng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Các đơn vị này có thể nắm rõ tiêu chí thẩm định, quy trình tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi dài hạn với quy mô cấp tín dụng từ 5 tỷ đồng đến hơn 30 tỷ đồng phục vụ sản xuất kinh doanh.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng và Chính sách công. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp kết hợp dữ liệu tài chính 5 năm với khảo sát mẫu 50 đối tượng và phỏng vấn sâu 10 chuyên gia trong nghiên cứu kinh tế học ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Hậu Giang giữ vị trí và vai trò then chốt như thế nào đối với sự phát triển kinh tế địa phương? Quỹ đóng vai trò là định chế tài chính công phi ngân hàng, làm cầu nối huy động các nguồn vốn xã hội trung và dài hạn để tài trợ cho hạ tầng kinh tế. Giai đoạn 2016 - 2020, Quỹ đã cung ứng hơn 56,5 tỷ đồng dư nợ tín dụng và trực tiếp đầu tư xây dựng các khu đô thị Nguyễn Huệ, góp phần quan trọng hoàn thiện diện mạo đô thị thị xã Ngã Bảy và thành phố Vị Thanh.

Yếu tố nào giúp Quỹ đạt được mức lợi nhuận kỷ lục 42,3 tỷ đồng vào năm 2019? Mức lợi nhuận đỉnh cao 42,3 tỷ đồng trong năm 2019 được tạo nên nhờ việc Quỹ hoàn thành xuất sắc công tác đầu tư hạ tầng và tổ chức đấu giá thành công các sản phẩm bất động sản tại dự án Khu đô thị Nguyễn Huệ giai đoạn 2 quy mô 5,6 ha, mang lại doanh thu vượt bậc trên 95 tỷ đồng so với mức chi phí khoảng 53 tỷ đồng.

Đâu là rào cản pháp lý lớn nhất đối với hoạt động đầu tư trực tiếp của Quỹ trong giai đoạn hiện nay? Khó khăn lớn nhất phát sinh từ quy định của Luật Đấu thầu khi yêu cầu các dự án sử dụng đất thương mại phải đấu thầu chọn nhà đầu tư, khiến nguồn vốn ngân sách nhà nước của Quỹ không thể trực tiếp tham gia như trước. Ngoài ra, việc quy định vốn điều lệ tối thiểu 300 tỷ đồng theo Nghị định số 147/2020/NĐ-CP đặt ra áp lực lớn khi vốn Quỹ năm 2020 mới đạt 178 tỷ đồng.

Luận văn đã triển khai phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu sơ cấp ra sao? Tác giả đã triển khai phương pháp chọn mẫu thuận tiện có cấu trúc với quy mô 50 phiếu khảo sát, phân bổ gồm 10 cán bộ quản lý (chiếm 20%), 20 chuyên viên nghiệp vụ (chiếm 40%) và 20 khách hàng doanh nghiệp (chiếm 40%) sử dụng thang đo Likert 5 điểm, kết hợp phỏng vấn sâu 10 chuyên gia đầu ngành để bảo đảm tính chuẩn xác khoa học.

Lộ trình trọng tâm nào giúp Quỹ củng cố hiệu quả kinh doanh và phát triển bền vững đến năm 2025? Quỹ cần khẩn trương phối hợp với cơ quan chủ quản nâng vốn điều lệ đạt mức 300 tỷ đồng, xử lý dứt điểm 21,3 tỷ đồng nợ đọng từ quỹ đất cũ trong giai đoạn 2022 - 2023. Đồng thời, đơn vị cần mở rộng danh mục cấp tín dụng dự án xanh nhằm nâng quy mô dư nợ cho vay cán mốc 100 tỷ đồng vào năm 2025.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa hệ thống cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh và xác lập 11 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức tài chính công địa phương trong bối cảnh thực thi Nghị định số 147/2020/NĐ-CP.
  • Công trình phản ánh khách quan bức tranh tài chính 5 năm từ năm 2016 đến năm 2020 của Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Hậu Giang, nổi bật với sự gia tăng vốn chủ sở hữu từ 110,232 tỷ đồng lên 179,612 tỷ đồng.
  • Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn cốt lõi về rủi ro tập trung nguồn thu vào đấu giá đất, vướng mắc pháp lý đấu thầu dự án và khoản nợ tồn đọng 21,3 tỷ đồng chưa thu hồi.
  • Tác giả đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ và khả thi cho giai đoạn 2022 - 2025, hướng tới mục tiêu nâng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng và mở rộng dư nợ cho vay đạt 100 tỷ đồng.
  • Luận văn đóng góp khung phân tích thực nghiệm và bài học quản trị hữu ích cho hơn 30 quỹ đầu tư phát triển địa phương trên cả nước trong quá trình tái cơ cấu hoạt động.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn giúp Ban Lãnh đạo Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Hậu Giang hoạch định chiến lược kinh doanh an toàn, bền vững giai đoạn 2022 - 2025. Để khai thác chi tiết hệ thống bảng biểu thống kê tài chính và trọn bộ công cụ khảo sát của công trình, quý độc giả và các nhà quản lý vui lòng tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế tại Thư viện Trường Đại học Trà Vinh.