Mô hình du lịch liên kết Đồng Tháp - Long An - Tiền Giang - Lê Trường Giang

Tài liệu và thông tin upload từ tác giả Lê Trường Giang mã số 2081452. Tổng hợp nội dung học tập, nghiên cứu và tài nguyên chia sẻ chi tiết.

Trường đại học

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

80
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về mô hình du lịch liên kết 3 vùng Đồng Tháp Long An Tiền Giang

Mô hình du lịch liên kết ba tỉnh Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang là giải pháp đột phá nhằm khai thác tối đa tiềm năng du lịch của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Ba tỉnh này sở hữu hệ thống tài nguyên thiên nhiên phong phú như rừng ngập mặn, sông ngòi, di tích lịch sử và văn hóa đặc sắc. Đồng Tháp có cảnh quan Đồng Tháp Mười và vườn quốc gia Tràm Chim, Long An nổi tiếng với các di tích lịch sử kháng chiến, Tiền Giang ghi dấu ấn với bãi biển Gò Công. Việc liên kết ba vùng không chỉ đa dạng hóa sản phẩm du lịch mà còn tạo ra chuỗi giá trị gia tăng, nâng cao sức cạnh tranh so với các điểm đến đơn lẻ. Mô hình này cũng góp phần giải quyết vấn đề manh mún trong hoạt động du lịch, thúc đẩy hợp tác liên vùng và phân phối lợi ích công bằng giữa các địa phương.

1.1. Đặc điểm địa lý và tài nguyên du lịch của 3 tỉnh

Đồng Tháp sở hữu hệ thống sông Tiền chia cắt địa hình thành hai vùng đối lập: Đồng Tháp Mười trũng thấp phía bắc và vùng đất cao phía nam. Long An nằm ở cửa ngõ phía tây nam TP.HCM, có địa hình tương đối bằng phẳng với hệ thống kênh rạch chằng chịt. Tiền Giang nằm ven biển, sở hữu bãi biển Gò Công dài 30km cùng hệ thống cù lao sông Tiền. Ba tỉnh đều có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho du lịch quanh năm. Tài nguyên du lịch đa dạng bao gồm: di tích lịch sử (địa đạo Củ Chi, chiến khu Rừng Sác), sinh thái (vườn quốc gia Tràm Chim, rừng ngập mặn Cà Mau), và văn hóa (lễ hội đền thờ Bác Hồ, chợ nổi Cần Thơ).

1.2. Tiềm năng phát triển du lịch liên kết vùng

Việc liên kết ba tỉnh tạo ra lợi thế cạnh tranh nhờ đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Du khách có thể trải nghiệm tour kết hợp tham quan Đồng Tháp Mười, thăm di tích lịch sử Long An và nghỉ dưỡng biển Tiền Giang chỉ trong một hành trình. Mô hình này giúp giải quyết vấn đề manh mún trong hoạt động du lịch, tăng cường sức hấp dẫn của điểm đến. Ngoài ra, liên kết vùng còn thúc đẩy hợp tác trong quản lý, quảng bá và đào tạo nguồn nhân lực du lịch. Theo số liệu năm 2020, ba tỉnh có tổng cộng 184 homestay và cơ sở lưu trú, nhưng hoạt động liên kết vẫn còn manh mún và chưa khai thác hết tiềm năng.

II. Phân tích thực trạng du lịch liên kết 3 vùng Đồng Tháp Long An Tiền Giang

Hiện nay, hoạt động du lịch tại ba tỉnh vẫn chủ yếu hoạt động độc lập, thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các địa phương. Các tour du lịch chủ yếu do các công ty lữ hành tự phát tổ chức, chưa có sự phối hợp giữa các tỉnh dẫn đến tình trạng chồng chéo điểm đến. Chương trình tour kết hợp ba tỉnh như “Một hành trình 3 điểm đến” năm 2017 chỉ dừng ở giai đoạn khai thác đơn lẻ, chưa đẩy mạnh thành chuỗi giá trị gia tăng. Công tác truyền thông chủ yếu sử dụng kênh truyền thống (báo chí, truyền hình) và chưa tận dụng tối đa các nền tảng số như mạng xã hội. Hệ thống cơ sở lưu trú tại ba tỉnh còn hạn chế, đặc biệt là các homestay chất lượng cao. Theo thống kê năm 2020, ba tỉnh chỉ có 184 hộ có thể đón khách lưu trú, chưa đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng tăng. Sự thiếu liên kết còn thể hiện ở chính sách quảng bá riêng lẻ, chưa có chiến lược chung thu hút du khách quốc tế.

2.1. Những bất cập trong hoạt động du lịch liên kết

Một trong những bất cập lớn nhất là sự thiếu đồng bộ trong quản lý điểm đến. Mỗi tỉnh có chiến lược phát triển du lịch riêng, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương. Các tour du lịch thường chỉ tập trung vào điểm đến nổi tiếng mà bỏ qua các điểm tiềm năng khác. Chất lượng dịch vụ tại các homestay và nhà nghỉ còn hạn chế, chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài ra, hạ tầng giao thông kết nối giữa ba tỉnh chưa đồng bộ, gây khó khăn cho du khách khi di chuyển. Việc thiếu liên kết cũng khiến cho công tác quảng bá du lịch chưa hiệu quả, dẫn đến tình trạng du khách không biết đến các điểm đến tiềm năng ngoài những địa danh quen thuộc.

2.2. Ảnh hưởng của yếu tố môi trường và xã hội

Hoạt động du lịch tại ba tỉnh chịu tác động mạnh mẽ từ biến đổi khí hậu, đặc biệt là tình trạng xâm nhập mặn tại Đồng Tháp Mười và ngập lụt tại Long An. Sự xuống cấp của hệ thống sông ngòi do ô nhiễm môi trường cũng ảnh hưởng đến cảnh quan du lịch. Mặt khác, hoạt động du lịch chưa gắn kết chặt chẽ với cộng đồng địa phương, dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên quá mức tại một số điểm đến. Sự thiếu liên kết giữa du lịch và nông nghiệp cũng khiến cho lợi ích kinh tế chưa được phân phối công bằng cho người dân địa phương. Ngoài ra, tình trạng thiếu lao động có tay nghề trong ngành du lịch cũng là một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững.

III. Giải pháp xây dựng mô hình du lịch liên kết hiệu quả

Để xây dựng mô hình du lịch liên kết hiệu quả, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ quản lý, quảng bá đến nâng cao chất lượng dịch vụ. Trước tiên, các tỉnh cần thành lập ban quản lý chung để điều phối hoạt động du lịch, xây dựng sản phẩm tour kết hợp và phân phối lợi ích công bằng. Tiếp theo, cần đầu tư hạ tầng giao thông kết nối giữa ba tỉnh, đặc biệt là hệ thống đường thủy và đường bộ chất lượng cao. Về phía doanh nghiệp, cần hợp tác xây dựng chuỗi giá trị du lịch, từ vận chuyển, lưu trú đến dịch vụ trải nghiệm. Bên cạnh đó, công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch cũng cần được đẩy mạnh, tập trung vào ngoại ngữ và kỹ năng chuyên môn. Việc ứng dụng công nghệ số trong quảng bá và bán hàng cũng là yếu tố then chốt, bao gồm xây dựng website chung, ứng dụng di động và tận dụng mạng xã hội. Cuối cùng, cần xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia liên kết, chẳng hạn như ưu đãi thuế và hỗ trợ vốn vay.

3.1. Xây dựng sản phẩm du lịch liên kết đa dạng

Sản phẩm du lịch liên kết cần được thiết kế theo hướng trải nghiệm đa chiều, kết hợp giữa văn hóa, sinh thái và ẩm thực. Các tour du lịch có thể bao gồm tham quan vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp), thăm di tích lịch sử Củ Chi (Long An) và nghỉ dưỡng biển Gò Công (Tiền Giang). Ngoài ra, cần phát triển các sản phẩm du lịch nông nghiệp, như tham quan vườn trái cây ở Tiền Giang hay trải nghiệm nông nghiệp sinh thái ở Đồng Tháp Mười. Các sản phẩm này không chỉ đa dạng hóa trải nghiệm du khách mà còn góp phần quảng bá văn hóa địa phương. Việc xây dựng sản phẩm du lịch liên kết cũng cần chú trọng đến yếu tố bền vững, đảm bảo khai thác tài nguyên hợp lý và bảo vệ môi trường.

3.2. Nâng cao chất lượng hạ tầng và dịch vụ

Để nâng cao chất lượng hạ tầng, cần đầu tư xây dựng hệ thống giao thông kết nối giữa ba tỉnh, đặc biệt là các tuyến đường thủy và đường bộ quan trọng. Các điểm đến du lịch cần được đầu tư cơ sở vật chất, bao gồm nhà vệ sinh, bãi đỗ xe và hệ thống chỉ dẫn du lịch. Đối với dịch vụ lưu trú, cần khuyến khích phát triển các homestay đạt chuẩn, kết hợp với các tiện nghi hiện đại. Ngoài ra, việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch cũng cần được chú trọng, bao gồm đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng phục vụ và quản lý du lịch. Các doanh nghiệp cũng cần đầu tư vào công nghệ số để nâng cao chất lượng dịch vụ, chẳng hạn như hệ thống đặt phòng trực tuyến và ứng dụng hướng dẫn du lịch.

IV. Kết luận và triển vọng phát triển mô hình du lịch liên kết

Mô hình du lịch liên kết ba tỉnh Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang là giải pháp quan trọng nhằm khai thác tối đa tiềm năng du lịch của vùng ĐBSCL. Mặc dù còn nhiều thách thức như thiếu liên kết, hạ tầng chưa đồng bộ và chất lượng dịch vụ hạn chế, nhưng với sự nỗ lực của chính quyền địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng, mô hình này hoàn toàn có thể phát triển bền vững. Việc xây dựng sản phẩm du lịch liên kết đa dạng, nâng cao chất lượng hạ tầng và ứng dụng công nghệ số sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến. Mô hình này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn văn hóa và môi trường, đồng thời thúc đẩy sự phát triển toàn diện của vùng ĐBSCL. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và điều chỉnh chiến lược phù hợp với tình hình thực tế để mô hình du lịch liên kết phát huy tối đa hiệu quả.

4.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của mô hình

Mô hình du lịch liên kết dự kiến sẽ mang lại những lợi ích kinh tế đáng kể cho ba tỉnh thông qua việc tăng doanh thu du lịch, tạo việc làm cho người dân địa phương và thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế phụ trợ. Về mặt xã hội, mô hình này góp phần nâng cao đời sống người dân, đặc biệt là tại các khu vực nông thôn. Ngoài ra, việc liên kết ba tỉnh cũng giúp quảng bá văn hóa và bản sắc địa phương tới du khách trong và ngoài nước, góp phần nâng cao vị thế của vùng ĐBSCL trong ngành du lịch Việt Nam. Mô hình cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau giữa các địa phương.

4.2. Định hướng phát triển bền vững trong tương lai

Trong tương lai, cần chú trọng đến yếu tố bền vững trong phát triển du lịch liên kết, bao gồm bảo vệ môi trường, khai thác tài nguyên hợp lý và đảm bảo lợi ích cho cộng đồng địa phương. Việc ứng dụng công nghệ xanh trong quản lý điểm đến cũng là xu hướng quan trọng, chẳng hạn như sử dụng năng lượng tái tạo và quản lý chất thải hiệu quả. Ngoài ra, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để thu hút du khách nước ngoài, đặc biệt là từ các thị trường tiềm năng như châu Âu, Mỹ và châu Á. Chính quyền địa phương cũng cần xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào chuỗi giá trị du lịch, đồng thời tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG 1. Khái quát về du lịch 1. Khái niệm du lịch Từ điển tiếng anh Oxford đã định nghĩa: “Du lịch là việc đi lại nhằm mục đích niềm vui hoặc kinh doanh; cũng là lý thuyết và thực hành về tổ chức các chương trình đi du lịch, ngành kinh doanh nhằm thu hút, cung cấp và giải trí cho khách du lịch, và việc kinh doanh của các tổ chức điều hành các tour du lịch.” Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), thuộc Liên Hiệp Quốc đã đưa ra khái niệm:“Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.” Theo điều 4, Luật Du lịch (2005) đã định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.” Như vậy, du lịch là hoạt động di chuyển của con người từ địa điểm này sang địa điểm khác trong cùng một quốc gia hoăc ra ngoài thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu và nghỉ dưỡng. Phân loại du lịch Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tùy thuộc tiêu chí đưa ra.

Hiện nay theo tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization) phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây: Căn cứ vào mục đích chuyến đi: Theo tiến sĩ Hassel có 10 loại hình du lịch phổ biến theo cách phân chia này: 1. Du lịch thiên nhiên, 2. Du lịch dân tộc học, 3. Du lịch chuyên đề, 6.

Du lịch xã hội, 7. Du lịch thể thao, 8. Du lịch tôn giáo, 9. Du lịch giải trí và 10.

Du lịch sức khỏe. 13 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ: Có thể phân chia thành các loại hình du lịch quốc tế, và du lịch nội địa. Loại hình du lịch quốc tế gồm hai loại nhỏ: + Du lịch quốc tế đến: là các du khách nước ngoài đến thăm quan các điểm du lịch của một quốc gia. Đinh Thùy Dung, 2022) + Du lịch ra nước ngoài: là cư dân trong nước đến quốc gia khác để thăm quan (Nguồn: ThS.

Đinh Thùy Dung, 2022). Căn cứ vào mức độ tác độngvà mong muốn trải nghiệm của du khách khi thực hiện. hành trình du lịch: “Du lịch thám hiểm”, “Du lịch thượng lưu”, “Du lịch khác thường”,. “Du lịch đại chúng tiền khởi”, “Du lịch thuê bao”.

(Nguồn: Nguyễn Lê Hà Phương,. Căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm đến du lịch bao gồm: du lịch đến vùng thành. thị phồn hoa hoặc du lịch đến vùng nông thôn hoang sơ, du lịch đến các vùng biển đảo cát vàng hay du lịch vào các vùng núi hùng vĩ,. Căn cứ vào phương tiện giao thông bao gồm: thực hiện hành trình thông qua các phương tiện hiện đại và di chuyển nhanh như du lịch xe máy, du lịch ô tô (ô tô du lịch và xe buýt đường dài), du lịch tàu hỏa, du lịch tàu thủy…Hoặc có thể du lịch xe đạp và các phương tiện thô sơ (xích lô, xe ngựa, lạc đà).

đối với các hành trình ngắn và có nhiều thời gian tự do tham thú. Trong loại hình này cần chú ý, du khách có thể có nhu cầu về dịch vụ chuyên chở hoặc thuê phương tiện vận chuyển. Căn cứ vào nơi ở khi đi du lịch bao gồm: du lịch ở các khu resort sang trọng, các. khách sạn 5 sao hay đơn giản là các nhà trọ bình dân, nhà nghỉ, bãi cắm trại, làng du.

Căn cứ vào thời gian du lịch: bao gồm du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày. Căn cứ vào lứa tuổi bao gồm: du lịch dành cho trẻ em, du lịch dành cho lứa tuổi. thanh thiếu niên, du lịch dưỡng sinh cho người cao tuổi, du lịch trung niên. Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch bao gồm: du lịch theo đoàn nhóm từ 3 đến.

50 người, du lịch một mình hay du lịch dành cho các hộ gia đình ,…. Căn cứ vào hình thức ký hợp đồng: bao gồm du lịch trọn gói và du lịch từng phần. Đặc điểm của du lịch 14 Du lịch có những đặc điểm sau: “Du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch”. Tài nguyên du lịch có thể là.

do thiên nhiên tạo ra hoặc do con người tạo thành. Tài nguyên du lịch tự nhiên là sông, núi, rừng, biển, hồ, thác nước, động vật quý hiếm.Tài nguyên du lịch nhân tạo là đền, chùa, thành, quách, lâu đài, khu vui chơi.Dù là tài nguyên tự nhiên hay nhân tạo thì đều phải đạt được yêu cầu là tính phổ biến. Con người xây dựng nên những địa điểm và các tuyến du ngoạn để phát triển du lịch dựa trên các nguồn tài nguyên này. Đinh Thùy Dung, 2022).

“Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách du lịch”. Du lịch là ngành kinh tế vì mang lại những doanh thu, lợi nhuận cho những người phục vụ du khách và du khách cũng sử dụng các sản phẩm và chi tiêu cho các hoạt động giải trí trong thời gian đi du lịch. Đồng thời, du lịch cũng là ngành văn hoá-xã hội vì khám phá những nét đẹp và sự đa dạng của người dân tại điểm du lịch (Nguồn: ThS. Đinh Thùy Dung, 2022).

Vai trò của du lịch “Thứ nhất, du lịch thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế” (Nguồn: Thúy Hà, 2019). Ngày nay, hầu hết tại các quốc gia trên thế giới thì du lịch đang là ngành có tốc độ tăng trưởng và phát triển cao. Phần lớn vai trò đóng góp về tăng trưởng GDP đến từ khối ngành du lịch, đặc biệt là ở những quốc gia có tiềm năng về mảng du lịch lớn. Vì thế, ngành du lịch trở thành mũi nhọn cho sự phát triển kinh tế ở các quốc gia.

Du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của hàng loạt các ngành kinh tế khác như giao thông vận tải, dịch vụ tài tính, dịch vụ khách sạn, dịch vụ ăn uống. “Thứ hai, sự phát triển của du lịch góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo” (Nguồn: Thúy Hà, 2019). Nguồn nhân lực là yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển của bất kì lĩnh vực nào, trong đó có du lịch. Các hoạt động du lịch như phục vụ trong nhà hàng, khách sạn, chèo thuyền, dẫn đoàn, cung ứng dịch vụ, thực phẩm., đều cần nguồn nhân lực khổng lồ để vận hành và duy trì.

Do đó, du lịch sẽ tạo việc làm và thu nhập cho người dân, giúp giảm thất nghiệp và đói nghèo cho những người dân tại địa phương du lịch. Có thể thấy, đầu tư và đẩy mạnh phát triển du lịch tạo ra công ăn việc 15 làm cho người dân, từ đó giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập cho dân địa phương, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và tăng cường xóa đói giảm nghèo cho khu vực. Khái quát về du lịch cộng đồng 1. Khái niệm Theo TS.

Đoàn Mạnh Cương “Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương (phong cảnh, văn hoá…)” (Nguồn: TS. Đoàn Mạnh Cương, 2019) Du lịch cộng đồng dựa trên sự tò mò, mong muốn của khách du lịch để tìm hiểu thêm về cuộc sống hàng ngày của người dân từ các nền văn hóa khác nhau. Du lịch cộng đồng thường liên kết với người dân thành thị đến các vùng nông thôn để thưởng thức cuộc sống tại đó trong một khoảng thời gian nhất định. Các hình thức của du lịch cộng đồng Các loại hình du lịch sau đây phù hợp với Du lịch cộng đồng bởi chúng được sở.

hữu và quản lý bởi cộng đồng (Nguồn: ThS. Đinh Thùy Dung, 2022):. + Du lịch sinh thái. + Du lịch nông nghiệp.

+ Du lịch bản địa + Du lịch làng 1. Đặc điểm của du lịch cộng đồng Theo Trung tâm Du lịch có trách nhiệm (CREST http://www.org) và các chuyên gia du lịch khác, đặc điểm quan trọng của du khách Du lịch cộng đồng là:“ ✓ Tôn trọng các giá trị tự nhiên, lịch sử và văn hóa và các điểm tham quan. ✓ Quan tâm đến các tác động của du lịch đối với môi trường và giá trị bền vững. ✓ Thích chỗ ở quy mô nhỏ của người dân địa phương.

16 ✓ Tìm kiếm những khía cạnh chân thực của cuộc sống: đặc sản địa phương, thiết kế mộc mạc và tự nhiên, các yếu tố mang đậm tính truyền thống đại phương. ✓ Tìm kiếm sự tương tác với con người, lối sống và các nền văn hóa riêng khác nhau của chính họ. ✓ Không bị thu hút bởi cách tiếp thị hàng loạt. ✓ Có học vấn cao.

✓ Có thu nhập tương đối cao. ✓ Không có con cái hoặc có con đủ tuổi để ở nhà một mình. Vai trò của du lịch cộng đồng Vai trò của du lịch cộng đồng với dân cư địa phương như sau (Nguồn: ThS. Đinh Thùy Dung, 2022):: ✓ Tạo việc làm cho dân cư địa phương.

✓ Góp phần phát triển kinh tế địa phương. ✓ Đóng góp để bảo tồn và phát triển du lịch. ✓ Giúp tiêu thụ hàng hoá và sản phẩm ✓ Xây dựng và nâng cao hình ảnh cho địa phương nói riêng và quốc gia nói. Các tiêu chí để xây dựng mô hình du lịch cộng đồng 1.

Tài nguyên du lịch Các loại tài nguyên du lịch được quy định tại Điều 15 Luật Du lịch 2017 như sau: “1. Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ