CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thu bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm về thu bảo hiểm xã hội Thu BHXH không ra đời cùng với khái niệm BHXH bởi hình thức sơ khai nhất của BHXH là những quỹ được hình thành do sự tự nguyện đóng góp của một bộ phận người nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, BHXH ngày càng hướng tới nhiều đối tượng và các chế độ trợ cấp khác nhau.
Do đó, nguồn quỹ BHXH cũng đặt ra yêu cầu cần được bảo vệ và tăng trưởng tương xứng với mức độ chi. Dần dần quỹ BHXH được hình thành không phải từ sự tự nguyện của một nhóm nhỏ lẻ mà trở thành quy định bắt buộc đối với cộng đồng, sau đó là mỗi quốc gia và cho đến hiện nay nó được công nhận trên toàn thế giới. Cũng từ đó, thuật ngữ “thu BHXH” ra đời và được sử dụng một cách rộng rãi. Tuy nhiên, để có khái niệm đầy đủ vềthu BHXH, trước tiên cần phải tìm hiểu về sự cần thiết phải có BHXH và nguyên tắc của thu BHXH.
Thu BHXH ra đời là một tất yếu khách quan xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản của BHXH như sau: Thứ nhất, BHXH và thu BHXH được thực hiện trên nguyên tắc có đóng, có hưởng, cộng đồng chia sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít, lấy của người đang làm việc trả cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH; đồng thời còn có thêm trách nhiệm đóng góp của chủ sử dụng lao động và sự bảo hộ của Nhà nước. Thứ hai, mức hưởng từ thu BHXH phải căn cứ trên mức đóng góp, thời gian đóng, không được cao hơn mức lương tham gia BHXH và thấp nhất phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động theo quy định của Nhà nước. Việc quy định mức hưởng phải thấp hơn tiền lương là nguyên tắc bắt buộc của tất cả các nước, song thấp hơn bao nhiêu còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia ở từng thời kỳ khác nhau. Thứ ba, thu, chi từ quỹ BHXH phải dựa trên nguyên tắc tự chủ về tài chính.
Đây là nguyên tắcquan trọng trong chính sách thuBHXH của các nước, bởi vì nếu 8 không thực hiện nguyên tắc này, quỹ BHXH sẽ chỉ tồn tại trên danh nghĩa do thu không đủ bù chi. Thứ tư, việc thu BHXH phải kết hợp hài hòa giữa các lợi ích, các mục tiêu và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi một quốc gia. Từ 4 nguyên tắc trên, có thể có cách hiểu về thu BHXH từ nhiều góc độ. Đó là: Về mặt ngôn ngữ, “thu BHXH” chỉ hành động thu tiền về cho quỹ BHXH (Đỗ Thị Hằng, 2015).
Về mặt kinh tế học, thu BHXH là một hoạt động hay một nghiệp vụ tài chính nhằm tạo nguồn thu cho quỹ BHXH (Đỗ Thị Hằng, 2015, trang 7), Luận văn cao học). Về mặt pháp lý, thu BHXH được hiểu là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tượng được tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình(Đỗ Thị Hằng, 2015, trang 7). Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng thu BHXH là hoạt động tổ chức và triển khai thực hiện việc thu tiền BHXH từ các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia BHXH bắt buộc và từ các đối tượng tự nguyện tham gia để tạo lập một quỹ BHXH tập trung, thống nhất và độc lập. Thu BHXH là hoạt động quản lý và tăng trưởng quỹ BHXH để quỹ được bảo toàn và phát triển, vừa đủ khả năng chi trả các chế độ BHXH vừa có khả năng kết dư trong tương lai.Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung thống nhất nhằm mục đích bảo đảm cho các hoạt động của sự nghiệp BHXH.
Đặc điểm của thu bảo hiểm xã hội 1. Đặc điểm về chủ thể thu Về chủ thể của thu BHXH: Trong xã hội có giai cấp và Nhà nước thì Nhà nướcchính là chủ thể có quyền thu BHXH mà cụ thể là các cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao phó, thay mặt Nhà nước để thực hiện việc thu, chi BHXH. Ví dụ, ở Việt Nam BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. BHXH lại được phân cấp theo đơn vị hành chính lãnh thổ trong đó có BHXH cấp huyện.
Theo quy định tại Quyết định số 1414 ngày 4 tháng 10 năm 2016 của BHXH Việt Nam có quy định về chức năng nhiệm vụ 9 quyền hạn của BHXH các cấp,trong đó BHXH cấp huyện được quy định tại điều 4, 5, 6, 7, 8 tại Quyết định này có nêu: - Bảo hiểm xã hội huyện là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo quy định. - Bảo hiểm xã hội huyện chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn của Ủy ban nhân dân huyện. - Khai thác, đăng ký, quản lý các đối tượng tham gia và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Thu các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức và cá nhân tham gia, từ chối việc đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế không đúng quy định.
Kiểm tra việc ký hợp đồng, việc đóng, trả bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động. Như vậy, có thể thấy , BHXH cấp tỉnh huyện và TX có quyền thu BHXH. Nói cách khác, chủ thể có quyền thu BHXH là cơ quan BHXH tỉnh, thành phố, huyện, TX. Đặc điểm về đối tượng phải nộp Về đối tượng của thu BHXH: Tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH 2014, BHXH được hiểu “là sự bù đắp hoặc thay thế một phần hoặc toàn bộ thu nhập của người lao động” thì đối tượng của BHXH chính là thu nhập của người lao động.
BHXH không phải “bảo hiểm” cho bản thân người lao động mà chính là “bảo hiểm” cho thu nhập của họ. Người lao động trong mối quan hệ này không phải là đối tượng được “bảo hiểm” mà là đối tượng được tác động hay nói cách khác là đối tượng được thụ hưởng BHXH. Đối tượng của thu BHXH cũng không phải là đối tượng tham gia BHXH mà là những đơn vị, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH. Hầu hết các quốc gia đều quy định đối tượng đóng góp vào quỹ BHXH bao gồm ba bên: Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước.
10 Theo quy định tại Điều 2 của Luật BHXH năm 2014 thì đối tượng đóng BHXH bắt buộc gồm:Người lao động là công dân Việt Nam, người lao động nước ngoài, người sử dụng lao động, cụ thể: - Đối tượng thứ nhất là: Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm: + Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; + Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng; + Cán bộ, công chức, viên chức; + Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; + Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; + Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; + Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; + Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; + Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. - Đối tượng thứ hai là: người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam. Đối tượng này phải có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp thì được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ. 11 - Đối tượng thứ ba là: người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Họ bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động. Để quản lý được nguồn thu BHXH từ các đối tượng đóng BHXH bắt buộc nêu trên, cơ quan BHXH cần phải: - Xây dựng danh sách ban đầu về các đối tượng đóng BHXH bắt buộc thuộc thẩm quyền mình phụ trách: Bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, công chức viên chức và cơ quan nhà nước. theo quy định tại khoản 1,2, và 3 điều 2 Luật BHXH năm 2014; - Điều chỉnh danh sách hàng năm dựa vào sự biến động tăng, giảm lao động và các cơ sở đơn vị hoạt động trên địa bàn thuộc BHXH quản lý.