CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Một số vấn đề lý luận về BHTN 1. Khái niệm về thất nghiệp Vấn đề về thất nghiệp không còn là điều mới mẻ trong nền kinh tế hiện nay. Nó đã được nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học bàn luận song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau về thất nghiệp.
Theo ILO: “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc những không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành”.1 Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Giơnevơ đưa ra định nghĩa: “Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây: - NLĐ có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm; - NLĐ có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ như NSDLĐ chẳng hạn) hoặc đã thôi việc; - NLĐ không có việc làm, có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời kì xác định; - Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương”2. Ở Việt Nam, Ở Việt Nam, thuật ngữ “thất nghiệp” đã được đề cập trong những văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước trong suốt mấy kỳ đại hội gần đây, thể hiện như một cảnh báo xã hội trong các Chiến lược phát triển KT - XH các giai đoạn 1 Ghi trong Điều 20, Công ước số 102 (năm 1952) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các quy phạm an toàn xã hội. 2 Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Giơnevơ 8 2001- 2010 và 2010 - 2020. Năm 2006, khái niệm “người thất nghiệp” ở Việt Nam đã được luật hóa và trở thành một thuật ngữ pháp lý tại Khoản 4, Điều 3 của Luật BHXH là: “người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng chưa tìm được việc làm”.
Để thống nhất trong điều tra lao động – việc làm được tiến hành hàng năm, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội không đưa ra khái niệm về thất nghiệp mà chỉ đưa ra quy định về người thất nghiệp, theo đó: “Người thất nghiệp là những người đủ từ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc nhưng không có việc làm trong tuần lễ điều tra, tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần tuần lễ qua với lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâu,… hoặc trong tuần lễ trước điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc.” Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về thất nghiệp nhưng từ khái niệm trên đây, người viết cho rằng: “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm nhưng đang không có việc làm”. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm về bảo hiểm thất nghiệp Trên thế giới, hình thức BHTN xuất hiện lần đầu tiên tại châu Âu vào năm 1893 tại Thụy Sĩ trong một ngành nghề khá phổ biến và phát triển: nghề sản xuất các mặt hàng thủy tinh3. Nghề này rất cần những thợ lành nghề và để giữ những công nhân ấy gắn bó với mình, các chủ DN đã lập ra quỹ DN để trợ cấp cho những người thợ phải nghỉ việc vì lý do thời vụ sản xuất.
Sau đó, nhiều nước như Na Uy, Đan Mạch, Anh, Thụy Điển… lần lượt cho ban hành đạo luật quốc gia về BHTN. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đặc biệt là sau khi có Công ước số 102 (năm 1952) của ILO thì một loạt nước trên thế giới đã triển khai BHTN và TCTN4. Về khái niệm BHTN: Công ước số 102 của ILO quy định rằng BHTN là một trong chín nhánh của BHXH. Xuất phát từ khái niệm của BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ gặp những rủi ro do mất việc làm 3 https://voer.vn/m/bao-hiem-that-nghiep-va-chuyen-dich-co-cau-kinh-te/634fcd29 4 Trịnh thị Kim Ngọc (2014) Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7(80) - 2014 9 thông qua một quỹ chung từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, góp phần làm ổn định đời sống của NLĐ và gia đình họ.
Một khi NLĐ bị rủi ro mất việc làm, nghĩa là khả năng lao động của họ không được sử dụng, thì họ được trợ cấp BHXH. Và chính trợ cấp BHXH này được cho là TCTN. Từ góc độ này, BHTN được xem như là một phần của BHXH. Do đó, ở khá nhiều quốc gia trên thế giới thì BHTN là một trong các nhánh nằm trong hệ thống BHXH như Anh, Mỹ, Thụy Điển.5 Tuy vậy ở một số quốc gia khác, xuất phát từ quan điểm cho rằng, bảo hiểm chỉ mang tính chất thụ động, hỗ trợ tạm thời cho NLĐ trong giai đoạn khó khăn sau khi mất việc làm mà không toát lên được vai trò thực sự của BHTN là giảm tình trạng thất nghiệp thông qua việc nhanh chóng giúp NLĐ quay lại thị trường lao động và sớm tìm kiếm được việc làm bằng các chính sách hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho NLĐ.
Canada, Hàn Quốc là những quốc gia quy định BHTN nằm trong hệ thống pháp luật về việc làm hay điển hỉnh cho quan điểm này là Nhật Bản, họ đã quy định vấn đề BHTN nằm trong Luật Bảo hiểm việc làm. Tại Việt Nam, trước đây theo trường phái Anh, Mỹ, Thụy Điển khi quy định BHTN nằm trong hệ thống BHXH. Theo Từ điển tiếng việt, BHTN được hiểu là sự “bảo đảm những quyền và lợi ích cho NLĐ, công nhân, viên chức khi không làm việc do bị mất việc làm”6. Các quan điểm trên mới chỉ đề cập BHTN như một chế độ trợ cấp về tài chính cho NLĐ khi bị mất việc làm, điều này đã bó hẹp BHTN như một là chế độ BHXH mà không làm rõ được hết vai trò quan trọng của BHTN trong thực tế là thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giảm thất nghiệp, tìm và tạo việc làm cho NLĐ.
Trong thực tế: BHTN là số tiền được trả cho NLĐ khi họ bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN. Nó không chỉ là một chỗ dựa vật chất và tinh thần vững chắc cho NLĐ khi thất nghiệp mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết khó khăn cho NSDLĐ và nhà nước. NSDLĐ sẽ được trút bớt gánh nặng tài chính giải quyết chế độ cho NLĐ bị sa thải. Đặc biệt, đối với ngân sách nhà nước, BHTN cũng góp phần không nhỏ nhằm giảm bớt chi phí khi nạn thất nghiệp gia tăng.
5 Trịnh thị Kim Ngọc (2014) Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7(80) - 2014 6 Viện ngôn ngữ học, (2010), Từ điển Tiếng Việt,Nxb.Từ điển Bách khoa. 10 Sau nhiều năm thực hiện BHTN và với ý kiến đóng góp khác nhau từ những học giả, nhà nghiên cứu về lĩnh vực thất nghiệp, Nhà nước đã có điều chỉnh mang tính đột phá khi chuyển toàn bộ chế độ BHTN quy định ở Luật BHXH số 71 năm 2006 sang Luật Việc làm số 38 năm 2013, như vậy, là Việt Nam đã tiếp thu và bước đầu áp dụng theo mô hình BHTN của Nhật Bản. Khoản 4 Điều 3 Luật Việc Làm năm 2013 đã đưa ra định nghĩa về BHTN là “chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ BHTN”. Khái niệm này cho thấy, BHTN không phải là biện pháp giải quyết hậu quả thất nghiệp một cách bị động, mà BHTN có vai trò chủ động trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giảm thất nghiệp, giúp NLĐ nhanh chóng tìm được việc làm.
Khái niệm về BHTN ở trên cho thấy BHTN là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính thông qua việc đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của nhà nước, nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho NLĐ trong thời kỳ họ bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong thị trường lao động. Mặt khác, trợ cấp thất nghiệp của Nhà nước và trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm khác với việc hình thành quỹ BHTN là một quá trình thường xuyên, liên tục và có sự tham gia đóng góp của cả NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước. BHTN không những là sự đóng góp chung rủi ro mất việc làm cùng tham gia đóng góp vào quỹ và từ từ quỹ đó hỗ trợ tài chính cho một bộ phận nhỏ những người không may rơi vào tình trạng thất nghiệp; mà còn là sự góp chung rủi ro giữa các DN với nhau. Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp Xuất phát từ việc phân tích khái niệm BHTN có thể thấy BHTN mang một số đặc điểm chung của một chế độ nằm trong BHXH đồng thời nó cũng mang một số đặc điểm đặc thù khác có tính chất của chế độ việc làm, góp phần tạo nên một sự thống nhất trong quan hệ của chế độ ASXH với vần đề việc làm.
Các đặc điểm riêng của BHTN bao gồm: Thứ nhất, đối tượng áp dụng BHTN chỉ là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và tham gia vào các quan hệ lao động nhưng do một lý do nào 11 đó mà mất việc làm, tạm thời không có việc làm cho dù đang tích cực tìm kiếm việc làm. So với các loại bảo hiểm khác của BHXH thì đối tượng áp dụng của BHTN hẹp hơn khá nhiều. Thứ hai, BHTN mang tính chất bắt buộc. Đây là một trong nhiều điểm chung của các chế độ BHXH.
Tính bắt buộc thể hiện qua 3 khía cạnh là chủ thể đóng, mức đóng, phương thức đóng. Chủ thể bắt buộc tham gia BHTN thường là NLĐ và NSDLĐ, bên cạnh đó ở một số quốc gia, Nhà nước cũng là đối tượng bắt buộc tham gia BHTN. Còn về mức đóng và phương thức đóng cũng bị ràng buộc bởi những quy định của pháp luật theo một mức cụ thể và cách thức nhất định. Các bên tham gia không có quyền lựa chọn mức đóng và phương thức đóng BHTN.