Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Một số vấn đề lý luận chung về đội ngũ viên chức bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm đội ngũ viên chức bảo hiểm xã hội Ở Việt Nam, ĐNVC là khái niệm được sử dụng để chỉ những người lao động trong các cơ quan nhà nước và cách hiểu về khái niệm viên chức thay đổi theo từng thời kỳ. Tại Hiến pháp năm 2013 sử dụng cụm từ “Cán bộ, viên chức” để chỉ chung những người làm việc trong cơ quan nhà nước.
Như vậy, viên chức là một khái niệm rất rộng là những người làm việc trong tất cả bộ máy, tổ chức của Nhà nước. Trước đây đội ngũ viên chức nằm trong đội ngũ cán bộ, công chức, nhưng khi Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung vào năm 2003, lần đầu tiên viên chức tách riêng ra thành một nhóm phân biệt với công chức. Tại Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003: Viên chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao những nhiệm vụ thường xuyên trong sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội [22]. Theo quy định này, viên chức là một nhóm nhỏ của nhóm cán bộ, công chức.
Tại Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 quy định: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [21]. Như vậy, ĐNVC là những người mang quốc tịch Việt Nam, được ký hợp đồng làm việc theo vị trí việc làm tại đơn vị sự nghiệp công lập và hưởng lương từ nguồn thu của đơn vị. Viên chức là những người làm thuần túy về chuyên môn như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, cung cấp dịch vụ,… tại các đơn vị sự nghiệp công lập. 7 Như vậy, ĐNVC ngành BHXH là những công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị BHXH công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị BHXH theo quy định của pháp luật.
Theo chức trách, nhiệm vụ: Viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý. Theo trình độ đào tạo: Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, đại học, cao đẳng, trung cấp. Đặc điểm của đội ngũ viên chức bảo hiểm xã hội Từ khái niệm về ĐNVC ngành BHXH nêu trên, cho thấy ĐNVC ngành BHXH bao gồm những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, ĐNVC ngành BHXH phải là công dân Việt Nam. Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: ĐNVC ngành BHXH phải là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm, là cơ sở đầu tiên để tuyển dụng những viên chức là vị trí việc làm tại BHXH.
Ngoài ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010 quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng như sau: Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Vị trí việc làm được hiểu là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập [21]. Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thường xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng Viên chức: thi tuyển hoặc xét tuyển.
8 Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại Đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 được hiểu là “… tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ). Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ).
Như vậy, nơi làm việc của ĐNVC ngành BHXH là các cơ quan đơn vị BHXH của Nhà nước Việt Nam. Thứ tư, về thời gian làm việc: thời gian làm việc của ĐNVC ngành BHXH được tính kể từ khi được tuyển dụng, hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. Thứ năm, về chế độ lao động: ĐNVC ngành BHXH làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên … Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lý để sau này xử lý các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên.
Lương của ĐNVC ngành BHXH được nhận từ quỹ của cơ quan BHXH nơi họ làm việc chứ không phải từ nhà nước. Do vậy, tiền lương 9 mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và cơ quan BHXH nơi họ làm việc. Xây dựng đội ngũ viên chức bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm, nguyên tắc xây dựng đội ngũ viên chức bảo hiểm xã hội Xây dựng ĐNVC BHXH bao gồm: Quy hoạch ĐNVC; Tuyển dụng ĐNVC; Đào tạo bồi dưỡng ĐNVC; Bố trí, sử dụng ĐNVC; Xây dựng chế độ chính sách đối với ĐNVC; Thanh tra, kiểm tra, đánh giá ĐNVC để nâng cao chất lượng phục vụ người dân và cộng đồng, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và xây dựng đội ngũ viên chức có phẩm chất, trình độ, năng lực, khắc phục những tồn tại và hạn chế của thể chế quản lý viên chức hiện có.
Vì vậy, xây dựng ĐNVC BHXH đảm bảo những nguyên tắc sau: Thứ nhất, ĐNVC BHXH có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong quá trình phục vụ người dân và cộng đồng; phát huy được tính sáng tạo, tính năng động và tài năng của viên chức đồng thời thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc phát triển đội ngũ viên chức. Thứ hai, ĐNVC BHXH góp phần thúc đẩy phát triển hoạt động của BHXH; chuyển cơ chế quản lý viên chức theo chỉ tiêu biên chế sang quản lý viên chức theo vị trí việc làm và xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp. Thứ ba, để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tăng trưởng, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển xã hội, bảo đảm các nhu cầu cơ bản thiết yếu của người dân và cộng đồng, xây dựng ĐNVC BHXH của thời kỳ mới, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. 10 Thứ tư, ĐNVC BHXH được bảo đảm phát huy tối đa các tiềm năng tri thức và tài năng của mình, phù hợp với quá trình cải cách khu vực dịch vụ công, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ năm, thực hiện tuyển dụng theo vị trí việc làm và quản lý viên chức theo chế độ hợp đồng làm việc. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp. Yêu cầu xây dựng đội ngũ viên chức bảo hiểm xã hội Xuất phát từ yêu cầu chung của việc xây dựng ĐNVC, những yêu cầu mới đặt ra với việc xây dựng ĐNVC BHXH trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và bước vào công cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Yêu cầu đặt ra trong xây dựng ĐNVC BHXH là: Thứ nhất, có thể lực tốt Thể lực là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc xây dựng ĐNVC nói chung và ngành BHXH nói riêng.
Viên chức dù đủ năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tốt nhưng không đảm bảo sức khỏe, thể lực chắc chắn khả năng làm việc và thực thi công vụ sẽ không cao. Có thể lực tốt sẽ đảm bảo cho viên chức hoàn thành tốt công việc mặc dù cường độ làm việc hay khối lượng công việc có nhiều. Để có ĐNVC nói chung và ngành BHXH nói riêng có thể lực tốt phục vụ công việc được giao đòi hỏi phải có sự nỗ lực rèn luyện của mỗi viên chức, đồng thời nhà nước và cơ quan BHXH phải xây dựng và thực hiện đồng bộ các chiến lược, chính sách, giải pháp khác nhau nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao sức khỏe, thể lực cho ĐNVC. Thứ hai, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với ĐNVC nói chung và ngành BHXH nói riêng là yêu cầu hàng đầu nhằm đáp ứng yêu cầu công việc, có kỹ 11 năng thực thi công vụ của viên chức.
Vì vậy, trong xây dựng ĐNVC nói chung và ngành BHXH nói riêng đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định để phù hợp với vị trí việc làm. Nên BHXH phải phân công viên chức đảm nhiệm các vị trí việc làm theo trình độ chuyên môn của viên chức đã được đào tạo. Nếu ĐNVC thiếu về năng lực chuyên môn nghiệp vụ thì hiệu quả thực thi công vụ của viên chức giảm, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác của cơ quan. Ngược lại, hiệu quả công tác thực thi công vụ tốt hơn góp phần vào sự phát triển của cơ quan.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của ĐNVC BHXH cơ bản đã được đào tạo trong quá trình học tập tại các trường cao đẳng, đại học,… trước khi tuyển dụng vào cơ quan BHXH. Tuy nhiên yêu cầu công tác này ngày càng cao và thực tiễn luôn thay đổi vì vậy công việc cũng thay đổi theo đòi hỏi viên chức phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác.