CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề thực hiện các chính sách xã hội, hướng tới xây dựng và đảm bảo an sinh xã hội tiên tiến. Có rất nhiều các bộ luật, các pháp lệnh, các nghị định, quyết định được ban hành để chỉ đạo thực hiện vấn đề này. Việc nâng cao công tác chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH giai đoạn 2020-2025 là hoàn toàn phù hợp với luật pháp và các chính sách xã hội quy định.
Điều này được thể hiện cụ thể trong các văn bản sau: - Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006. - Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008. - Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014. - Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH14 ngày 20/11/2014.
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chi BHXH. - Đỗ Văn Sinh (2015), “Quản lý tài chính trong BHXH của Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả của luận án đã hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận chung về quản lý tài chính trong BHXH Việt Nam, trong đó có nội dung thu, chi BHXH; phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu, chi trong BHXH Việt Nam. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính trong BHXH Việt Nam.
- Đào Thế Khoa (2012), “Thực trạng và giải pháp tăng cƣờng quản lý chi tại BHXH Tỉnh Thái Nguyên”, luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế, trƣờng đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về quản lý chi BHXH; phân tích đánh giá thực trạng quản lý chi BHXH tại BHXH tỉnh Thái Nguyên. Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng quản lý 6 chi tại BHXH tỉnh Thái Nguyên. - Nguyễn Thị Chính (2010), “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam”, luận án tiến sỹ kinh tế, trường đại học Kinh tế quốc dân.
Tác giả của luận án đã đi sâu phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH; phân tích đánh giá thực trạng hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam. Đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam. - Ngô Võ Lược (2014), “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu, chi quỹ BHXH, BHYT bắt buộc tại BHXH tỉnh Hòa Bình”, luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, trường đại học Bách khoa Hà Nội. Tác giả luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về BHXH, BHYT và quản lý thu, chi quỹ BHXH, BHYT bắt buộc, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu, chi BHXH, BHYT bắt buộc tại BHXH tỉnh Hòa Bình.
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu, chi quỹ BHXH, BHYT bắt buộc ở BHXH tỉnh Hòa Bình. - Nguyên Huy Ban (1999), "Chiến lược phát triển BHXH phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020", đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ. Tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển BHXH, việc thực hiện BHXH ở một số nƣớc trên thế giới và thực trạng chính sách BHXH ở Việt Nam. Đưa ra những định hướng cơ bản để phát triển BHXH ở Việt Nam.
- Tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến trong công trình “Góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996) đã làm rõ một số nội dung của chính sách an sinh xã hội qua việc phân tích: Cơ sở lý luận của bảo đảm xã hội; những quy định của công ước quốc tế về bảo đảm xã hội và kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc thực hiện chính sách bảo đảm xã hội; lịch sử hình thành chính sách bảo đảm xã hội ở Việt Nam; vấn đề đổi mới chính sách bảo đảm xã hội nói 7 chung và chính sách an sinh xã hội nói riêng trên các lĩnh vực như BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội. Mặc dù vẫn chưa phân định rõ ràng giữa bảo đảm xã hội với an sinh xã hội song có thể nói, công trình đó đã đưa ra nhiều luận cứ quan trọng cho việc đổi mới và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội nói riêng và chính sách xã hội nói chung ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua. - Cuốn "an sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020" (Nxb Chính trị quốc gia, 2012) do tác giả Vũ Văn Phúc chủ biên là tập hợp các bài viết trình bày về: 1) Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm thế giới về an sinh xã hội; 2) Những vấn đề về thực tiễn an sinh xã hội ở nước ta. Trong bài "an sinh xã hội ở nước ta; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" tác giả Vũ Văn 1.
Một số khái niệm và quy định chung về quản lý chi bảo hiểm xã hội: 1. Bảo hiểm xã hội: 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Các yếu tố cấu thành các chế độ bảo hiểm xã hội: Đối tượng được hưởng bảo hiểm xã hội; Điều kiện được hưởng bảo hiểm xã hội; Mức hưởng và thời hạn hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Vai trò, chức năng của bảo hiểm xã hội: a) Đối với người lao động và gia đình họ: - BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình họ. - Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân lao động. b) Đối với xã hội: - Thứ nhất: Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và 8 người lao động, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH.
Tuy nhiên mối quan hệ mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau. Người lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội. Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH.
- Thứ hai: BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”. BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên. - Thứ ba: BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững. - Thứ tư: BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác độ xã hội, BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động.
Trên giác độ kinh tế, BHXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng. Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội. c) Đối với nền kinh tế thị trường: - Thứ nhất: Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp trong xã hội trơ nên rõ rệt. Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa 9 các ngành nghề khác nhau trong xã hội.
Nhưng rủi ro xãy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng quẫn. BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ. - Thứ hai: Đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả. Nhờ vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn.
Hệ thống BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường. - Thứ ba: Khi tham gia BHXH cho người lao động sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận tình của người lao động trong các doanh nghiệp làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường. - Thứ tư: Quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phảt triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động. - Thứ năm: BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động.