CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM Y TẾ 1. Khái quát về Bảo hiểm y tế và quản lý quỹ Bảo hiểm y tế. Một số khái niệm - Bảo hiểm y tế Theo Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc Hội:“Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này.” Ngày 13/06/2014, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT số 4/2014/QH13 như sau: “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy đinh của Luật này để chăm sóc sức khỏe không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.” Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT có một số điểm quan trọng mang tính đột phá để khắc phục nhưng hạn chế trước đó, tạo cơ chế phá lý bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT và tính bền vững của quỹ BHYT. Khái niệm BHYT được thay đổi, trong đó quy định các đối tượng bắt buộc tham gia BHYT.
Đây là một trong những giải pháp quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị của Nhà nước Việt Nam hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân. - Quỹ bảo hiểm y tế Là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chi phí quản lý bộ máy của tổ chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến bảo hiểm y tế(Luật BHYT, 2015). - Cơ sở Khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh có ký kết hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức BHYT (Quốc Hội, 2014). Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tiên theo đăng ký của người tham gia BHYT và được ghi trong thẻ BHYT (Luật số46/2014/QH13 Luật BHYT, 2015).
- Giám định bảo hiểm y tế 6 Giám định BHYT là hoạt động chuyên môn do tổ chức BHYT tiến hành nhằm đánh giá sự hợp lý của việc cung cấp dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, làm cơ sở để thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT(Luật BHYT, 2015). Cơ sở lý luận về bảo hiểm y tế. - Đặc điểm của bảo hiểm y tế BHYT có đối tượng tham gia rộng rãi, đa dạng, có tính bao phủ, bao gồm mọi thành viên ở trong xã hội, không phân biệt giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, khu vực. Do tính chất phức tạp này, BHYT cần được luật hóa và việc xây dựng, triển khai chính sách BHYT cần được nghiên cứu, ban hành với từng thời kỳ kinh tế - xã hội.
BHYT không nhằm bù đắp cho người hưởng bảo hiểm (như chế độ BHXH, ốm đau, tai nạn lao động) mà nhằm chăm sóc sức khỏe của người tham gia BHYT khi họ bị bệnh. BHYT là chi phí ngắn hạn, không xác định trước, không phụ thuộc vào thời gian đóng, mức đóng mà phụ thuộc vào mức độ bệnh tật và khả năng cung ứng dịch vụ y tế. - Nguyên tắc của BHYT BHYT đảm bảo chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT. Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính; Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT.
Chi phí KCB BHYT do Quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả. Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được nhà nước bảo hộ. - Vai trò của BHYT Thứ nhất: BHYT chính là biện pháp để xóa đi sự bất công giữa người giàu và người nghèo, để mọi người có bệnh đều được điều trị khi họ tham gia BHYT Thứ hai: BHYT giúp cho người tham gia khắc phục khó khăn cũng như ổn định về mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro, ốm đau. Nhờ có BHYT, người dân sẽan tâm về mặt sức khỏe cũng như kinh tế vì đóng BHYT như đóng quỹ dự phòng cho ốm đau, bệnh tật, đặc biệt với những người có hoàn cảnh khó khăn.
Thứ ba: thông qua loại hình BHYT cho học sinh, sinh viên, BHYT là thông điệp đầy tính nhân đạo “lá lành đùm lá rách”, giáo dục cho trẻ em về tính cộng đồng, tương thân tương ái. 7 Thứ tư: BHYT có tác dụng góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, tỷ lệ chi từ NSNN cho tài chính y tế đã giảm 10 lần so với năm 1993). Thứ năm: BHYT giúp tăng chất lượng KCB và quản lý y tế thông qua hoạt động đầu tư của Quỹ BHYT.
Việc đầu tư nhằm hiện đại hóa trang thiết bị y tế, sản xuất thuốc đặc chủng trị bệnh hiểm nghèo, nâng cấp một cách hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh, đào tạo đội ngũ y bác sỹ. Thứ sáu: BHYT là một công cụ vĩ mô của Nhà nước để thực hiện tốt phúc lợi xã hội. Cơ sở lý luận về Quỹ bảo hiểm y tế. Mối quan hệ giữa người tham gia BHYT, người cung cấp dịch vụ y tế và cơ quan quản lý quỹ BHYT (cơ quan Bảo hiểm xã hội) Người tham gia bảo hiểm y tế không trực tiếp thanh toán cho cơ sở cung cấp dịch vụ y tế mà cơ quan quản lý Quỹ BHYT đóng vai trò là người mua và thanh toán cho bên cung cấp dịch vụ y tế theo hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên.
Ba chủ thể trên tuy có chức năng khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và khăng khít với nhau trong chu trình BHYT để đảm bảo quyền lợi giữa các bên. Sơ đồ dưới đây mô tả trực quan quan hệ giữa ba chủ thể này. Người tham gia nộp Đi KCB tại cơ sở y tế Người tham gia BHYT phí BHYT Thanh toán chi phí KCB cho cơ Cơ quan BHXH sở y tế Cơ sở KCB Hình 1.1: Sơ đồ quan hệ trong hoạt động Bảo hiểm y tế (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Người tham gia BHYT có trách nhiệm đóng phí BHYT theo mức phí quy định và được hưởng các quyền lợi KCB theo quy định. Đơn vị cung cấp dịch vụ y tế là các cơ sở KCB, bao gồm các phòng khám chuyên khoa hay đa khoa, các bệnh viện theo các tuyến khác nhau.
Cơ sở KCB thực hiện việc cung cấp dịch vụ KCB theo hợp đồng với cơ quan Bảo hiểm cho người bệnh có thẻ BHYT. 8 Cơ quan Bảo hiểm thực hiện việc thu BHYT, xác định phạm vi, quyền lợi của người tham gia bảo hiểm theo quy định và đảm bảo việc thực hiện cung cấp dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT. Mặt khác, Cơ quan bảo hiểm có trách nhiệm chi trả cho các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế một phần hoặc toàn bộ chi phí KCB của người tham gia BHYT tại các cơ sở này. - Nguồn thu Quỹ bảo hiểm y tế Nguồn thu của Quỹ BHYT là khoản đóng góp của các chủ thể tham gia, các nguồn thu từ hoạt động của Quỹ và các nguồn thu khác.
Mục đích nhằm chi trả các khoản chi phí KCB khi người đóng BHYT tới KCB tại các cơ sở y tế theo quy định. Đây là nguồn thu chủ yếu và được thực hiện theo quy định của pháp luật. Quỹ BHXH đóng cho đối tượng hưu trí, mất sức lao động, người đang hưởng trợ cấp BHXH, trợ cấp thất nghiệp hàng tháng. Ngân sách nhà nước (NSNN) đảm bảo đóng BHYT cho đối tượng thuộc lực lượng vũ trang, công chức, đối tượng chính sách, ưu đãi xã hội.và một số đối tượng khác (quy định tại điều 12 Luật BHYT,2015) Với các quốc gia có Quỹ BHYT đã đi vào ổn định, đây là nguồn thu nhỏ.
Tuy vậy, nhà nước luôn bảo trợ cho Quỹ BHYT trong trường hợp các biến động lớn về kinh tế - xã hội gây mất cân đối thu chi Quỹ. Với loại hình BHYT tự nguyện, nguồn thu Quỹ BHYT gồm: Người lao động thuộc khu vực phi chính thức (người lao động chưa có hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động). Ở các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ loại hình lao động này ở mức cao (WorldBank, 2013) xong tỷ lệ đóng BHYT lại ở mức thấp. Chính vì vậy, thực tế nguồn thu BHYT tự nguyện ở khu vực này chiếm tỷ trọng rất thấp.
NSNN hỗ trợ mức đóng cho đối tượng cận nghèo, học sinh, sinh viên và nông dân, đây là nguồn thu quan trọng của Quỹ BHYT. Sự hỗ trợ của NSNN đã góp phần tăng tính bao phủ BHYT lên toàn dân ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Ngoài các nguồn kể trên, BHYT còn có các nguồn thu khác từ viện trợ, sự giúp đỡ của các cá nhân trong và ngoài nước. 9 Hình dưới đây mô tả các nguồn thu quỹ BHYT và vị trí quỹ BHYT trong luồng tài chính Việt Nam.2: Sơ đồ các nguồn thu quỹ BHYT (Nguồn: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam) - Sử dụng Quỹ bảo hiểm y tế Quỹ BHYT được sử dụng cho các mục đích sau đây: 90% dùng để thanh toán chi phí KCB BHYT; 10% dành cho quỹ dự phòng, chi phí quản lý quỹ BHYT, trong đó dành tối thiểu 5% số tiền đóng BHYT cho quỹ dự phòng.
Số tiền tạm thời nhàn rỗi của Quỹ được sử dụng để đầu tư theo các hình thức quy định của Luật BHXH; Trường hợp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có số thu BHYT lớn hơn số chi khám bệnh, chữa bệnh BHYT trong năm, sau khi được Bảo hiểm xã hội Việt Nam thẩm định quyết toán, phần kinh phí chưa sử dụng hết thì 80% chuyển về quỹ dự phòng, 20% để phục vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT tại địa phương. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, toàn bộ phần kết dư được hoạch toán toàn bộ vào quỹ dự phòng để điều tiết chung. Trường hợp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có số thu BHYT nhỏ hơn số chi khám bệnh, chữa bệnh BHYT trong năm, sau khi thẩm định quyết toán, Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm bổ sung toàn bộ phần kinh phí chênh lệch này từ nguồn quỹ dự phòng.