Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý quỹ bảo hiểm xã hội Chương 2: Thực trạng quản lý quỹ bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Tháp Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý quỹ bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Tháp 7 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái quát chung về ảo hiểm h i: 1. Khái niệ ảo hiể hội Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. Trong quá trình phát triển, các chế độ BHXH và đối tượng BHXH ngày càng mở rộng.
Theo đó, khái niệm BHXH cũng có nhiều thay đổi và ngày càng được hoàn thiện. Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm về BHXH và cũng có rất nhiều khái niệm về BHXH được đưa ra. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra một định nghĩa về BHXH được chấp nhận rộng rãi nhất. Bảo hiểm xã hội là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm tránh tình trạng khốn khó về mặt kinh tế xã hội do bị mất hoặc giảm đáng kể thu nhập vì bệnh tật, thai sản, TNLĐ, mất sức lao động và tử vong.
Khái niệm bảo hiểm xã hội của Việt Nam: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc b đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của nhà nước theo qui định pháp luật nhằm đảm bảo an toàn cho đời sống NLĐ và gia đình của họ, đồng thời góp phần đảm bảo ASXH. Có thể nói, BHXH là một quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được dồn tích dần do sự đóng góp của người sử dụng lao động và NLĐ dưới sự điều tiết của nhà nước, nhằm đảm bảo một phần thu nhập để thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu của NLĐ và gia đình của họ khi gặp những biến cố làm giảm hoặc mất thu nhập theo lao động. Bản chất ảo hiể hội Bản chất của BHXH là quá trình tổ chức đền b hậu quả của những rủi ro xã 8 Luan van hội hoặc các sự kiện bảo hiểm. Sự đền b này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung, hình thành do sự đóng góp giữa các bên tham gia BHXH và các nguồn thu nhập hợp pháp khác của quỹ BHXH nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình của họ góp phần đảm bảo ASXH.
Bản chất của BHXH được thể hiện những nội dung chủ yếu sau: - Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội được bảo hiểm trong BHXH liên quan đến thu nhập của NLĐ. Do những sự kiện và rủi ro này mà NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng (mất việc làm, thất nghiệp), dẫn đến việc họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp. Trong những trường hợp đó, NLĐ cần phải có khoản thu nhập khác b vào để ổn định cuộc sống và sự b đắp này được thông qua các trợ cấp BHXH. Tuy nhiên, trong BHXH, không phải NLĐ cứ bị mất thu nhập bao nhiêu là được b bấy nhiêu.
Điều này liên quan đến quyền và nghĩa vụ của NLĐ được pháp luật BHXH qui định. Đây là đặc trưng rất cơ bản của BHXH. - NLĐ khi tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH, tuy nhiên quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH. Người NSDLĐ cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ mà mình thuê mướn.
- Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, bao gồm NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH. Ngoài nguồn thu của quỹ BHXH, còn có các nguồn khác như lợi nhuận từ đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH; khoản nộp phạt của các doanh nghiệp, đơn vị chậm nộp BHXH theo qui định của pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác. - Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định. * Các mối quan hệ của ảo i m i: Với những đặc trưng nêu trên, BHXH có mối quan hệ rất đa dạng và nhiều chiều, nhiều tầng; có những mối quan hệ bên trong hệ thống BHXH và quan hệ giữa BHXH (với tư cách là một chính sách) với các chính sách khác.
Mối quan hệ n i tại của hệ thốn ảo i m i 9 Luan van Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH. Khác với bảo hiểm thương mại, trong BHXH, mối quan hệ này dựa trên quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo qui định của pháp luật BHXH. Bên tham gia BHXH, gồm có NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước (trong một số trường hợp).
NLĐ tham gia BHXH để bảo hiểm cho chính mình trên cơ sở san sẻ rủi ro của số đông NLĐ khác và san sẻ rủi ro của chính mình theo thời gian. NSDLĐ có trách nhiệm phải bảo hiểm cho NLĐ mà mình thuê mướn. Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là đơn vị sử dụng các công chức, viên chức và những người hưởng lương từ ngân sách; bảo hộ cho các hoạt động của quỹ BHXH, bảo đảm giá trị đồng quỹ được góp vào và hỗ trợ cho quỹ trong những trường hợp cần thiết và chủ thể quản lý, định ra những chế độ, chính sách, định hướng cho các hoạt động BHXH. Mối quan hệ bên ngoài Với tư cách là một chính sách, BHXH có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác của Nhà nước mà trước hết là với chính sách về ASXH và các chính sách xã hội.
Trong hệ thống ASXH của một quốc gia, BHXH là một trụ cột cơ bản nhất và có mối quan hệ mật thiết với các bộ phận khác, nhằm góp phần thực hiện ASXH cho đất nước. Chính sách BHXH có mối quan hệ hữu cơ hoặc chịu ảnh hưởng bởi các chính sách xã hội khác như chính sách dân số; chính sách lao động, việc làm; chính sách chăm sóc sức khỏe dân cư. Điều này sẽ ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu đối tượng tham gia BHXH và ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu đối tượng thụ hưởng BHXH, từ đó ảnh hưởng đến việc qui định các chế độ BHXH. Tương tự như vậy, giữa chính sách BHXH và chính sách lao động - việc làm vừa có mối quan hệ tương tác, vừa có mối quan hệ nhân quả.
Khi chính sách toàn dụng lao động của quốc gia được thực hiện tốt, NLĐ có công ăn việc làm; lực lượng 10 Luan van lao động trong xã hội sẽ là những đối tượng tham gia BHXH đông đảo. Ngược lại, khi chính sách lao động việc làm không tốt, NLĐ không có khả năng đóng BHXH hoặc số người thất nghiệp gia tăng, sẽ tạo ra sức ép rất lớn đối với hệ thống BHXH. Bên cạnh đó, chính sách BHXH còn có mối quan hệ mật thiết với các chính sách kinh tế xã hội khác như chính sách tài chính quốc gia, chính sách xóa đói giảm nghèo; chính sách tiền lương; chính sách phát triển doanh nghiệp. Chính sách BHXH của một quốc gia có mối quan hệ hữu cơ hoặc chịu ảnh hưởng của hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội khác mà trước hết là các chính sách xã hội.
Mỗi sự thay đổi của chính sách xã hội đều có những ảnh hưởng nhất định hoặc tích cực hoặc tiêu cực đến chính sách BHXH. Vai trò củ h nh sá h ảo hiể hội 1. ai tr ủa ảo i m i: Hoạt động của BHXH là hoạt động sự nghiệp vì lợi ích chung của toàn xã hội, phục vụ cho mọi thành viên trong xã hội, hoạt động của BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận. Do đó, BHXH có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế xã hội của con người, được thể hiện trên các mặt sau: BHXH góp phần ổn định đời sống của người tham gia BHXH, đảm bảo ASXH.
Những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc b đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết. Nhờ có sựđảm bảo thay thế hoặc b đắp thu nhập kịp thời mà NLĐ nhanh chóng khắc phục được những tổn thất vật chất, sớm phục hồi sức khỏe để tiếp tục quá trình lao động, hoạt động bình thường của bản thân. Đây là vai trò cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và phương thức hoạt động của BHXH. BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Phân phối trong BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh có việc làm ổn định cho những người ốm, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động và trong cuộc sống. BHXH còn làm cho mối quan hệ giữa NLĐ, NSDLĐ và nhà nước ngày càng gắn bó. Thông qua hoạt động của BHXH, NLĐ có trách nhiệm hơn trong công việc, 11 Luan van họ tích cực lao động, tạo ra năng suất lao động cao hơn. Đối với nhà nước thông qua việc tổ chức hoạt động BHXH đã đảm bảo cho mọi NLĐ, mọi tổ chức, công bằng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong đời sống xã hội, góp phần làm cho sản xuất ổn định, nền kinh tế, chính trị và xã hội phát triển và an toàn.
BHXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước. Xét về phương diện tài chính thì BHXH là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung; quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước; quỹ được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ và gia đình họ, một phần d ng để chi quản lý sự nghiệp BHXH.