chương 1 đến chương 3 để làm căn cứ cho cơ sở lý thuyết của luận văn. - Sách “Giáo trình Bảo hiểm xã hộ của Hoàng Mạnh Cừ, Đỗ Thị Thu Huong (2011), NXB Tài chính [10] Giáo trình đã cung cấp nhưng kiến thức lý luận cơ bản về lĩnh vực bảo. hiểm phi thương mại, trong điều kiện hệ thống các văn bản pháp lý không. ngừng được hoàn thiện để phù hợp với những thay đổi của Luật BHXH, Luật BHYT.
Giáo trình đã hệ thống những vấn đề cơ bản về bảo hiểm như lịch sử hình thành và phát triển, đặc điểm, vai trò của bảo hiểm xã hội đối với quốc. gia; tắm quan trọng của quản lý nhà nước đổi với BHXH, đưa ra mô hình quản lý nhà nước đối với BHXH của Việt Nam và một số nước. Giáo trình sồm 4 chương bao gồm các lý thuyết về BHXH, hệ thống các chế độ của. BHXH, tài chính BHXH, quản lý nhà nước về BHXH vừa đảm bảo tính khoa học, hiện dại, vừa phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay.
Giáo trình cung cấp những kiến thức mà tác giả vận dụng làm nền tảng cho phần lập luận phân tích hoàn thiện luận văn. ~ Luật BHXH số 58/2014/QH13, ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2014 [I6] Luật BHXH số 58/2014/QH13 (gọi tắt là Luật BHXH 2014) được Quốc hội khóa 13 thông qua có hiệu lực thi hành từ 01/01/2016 thay thể cho. Luật BHXH 2006 đã không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội. Luật BHXH 2014 đã đánh dấu sự phát triển quan trọng của ngành BHXH Việt Nam, có thể nói Luật BHXH 2014 đã khắc phục được nhiều điểm bắt cập trong Luật BHXH 2006, đặc biệt sự thay đổi quy định trong các chế độ trợ.
cấp của BHXH bắt buộc đã đem lại thêm nhiều lợi ích hơn cho người lao động; tạo. lề cho việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tới mọi người lao động, góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Đây chính là cơ sở. pháp lý cao nhất quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách.
nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội; từ đó làm căn cứ phân tích trong quá trình thực hiện luận văn. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến Bảo hiểm xã hội của các tác giả trước đây như: Trong nghiên cứu “Phat wrién hé thẳng an sinh xã hội của Việt Nam đến năm 2020” của TS. Nguyễn Thị Lan Hương, ThS. Đặng Kim Chung, ThS Lưu Quang Tuấn, ThS.
Nguyễn Bích Ngọc, CN. Đặng Hà Thu (2013) [12], nhóm tác giả thuộc Viện khoa học lao động và xã hội đã nghiên cứu chỉ tiết các chính sách của nhóm chính sách Bảo hiểm xã hội, một trong những cấu phần của hệ thống An sinh xã hội của Việt Nam. Qua đó, các tác giả cũng đưa ra những tồn tại và nguyên nhân của từng chính sách, từ đó đưa ra định hướng, phát triển chính sách. Tuy nhiên định hướng phát triển chính sách của nghiên cứu vẫn chưa nêu được các giải pháp thực thỉ cụ thể dành cho những người đang thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội.
Trong các nghiên cứu như của: - Công trình “Quán ý. nhà nước về BHXH tại thành phố Đà Nẵng” của ThS.Trần Thị Quý Thanh (2017), Đại học kinh tế Đà Nang [19], đã hệ thống được toàn bộ hoạt động của BHXH thành phố Đà Nẵng, đưa ra được những ưu điểm đã thực hiện được, và những nhược điểm cần khắc phục trong quản lý nhà nước về BHXH, từ đó để ra các giải pháp mang tính thiết thực đối với việc quản lý nhà nước BHXH tại thành phố Đà Nẵng. - Công trình “Hoàn thiện quản lý nhà nước về BHXH tại tính Kon 10 Tum” của ThS. Nguyễn Thi Mỹ Sen (2017), Đại học kinh tế Đà Nẵng [18], đã nghiên cứu hệ thống về quản lý nhà nước hoạt động bhxh trên địa bàn tỉnh.
Từ những bắt cập, tồn tại trong công tác ban hành văn bản hướng, dẫn chính sách BHXH, công tác tổ chức cán bộ, công tác thanh tra, kiểm tra đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về BHXH trên địa bản tỉnh Kon Tum. ~_ Công trình “Luật pháp vẻ Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ” của TS. Nguyễn Thị Lan Hương (2013). Dại học Quốc gia Hà Nội [14], đã tập trung phân tích cụ thể những chính sách BIIXH dành cho đối tượng người lao động là giới nữ, nêu ra những chính sách có lợi, đảm bảo quyển lợi của lao động nữ, bên cạnh đó cũng có những bắt cập trong việc thực hiện Luật BHXH.
đối với lao động nữ, từ đó có những giải pháp phù hợp. ~ Công trình “Hoàn thiện công tác quản {ý chỉ BHXH tai BHXH thành phố Đà Nẵng” Đoàn Thị Lệ Hoa (2012), Đại học kinh tế Đà Nẵng [13] đã chỉ ra được một số tồn tại làm ảnh hưởng đến hoạt động chỉ BHXH và quyền lợi của các đối tượng hướng BHXH như việc: một số bộ phận người sử dụng lao động chưa làm tròn trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động, bắt cập trong việc lâp dự toán chí, việc dự đoán sự biến động của các nội dung chỉ BHXH chưa kịp thời. Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm giúp BHXH thực. hiện có hiệu quả hơn việc kiểm soát chỉ BHXH.
Các đề tài thường nhắn mạnh việc quản lý nhà nước về BHXH nói chung, quản lý chỉ BHXH hoặc nói đến môt mảng chế độ chính sách đối với một đối tượng người lao động; đồng thời các tác giả chưa nêu bật được cụ thể. việc lạm dụng quỹ BHXH như thế nào và đưa ra được giải pháp đối với việc. thực hiện chính sách BHXH. Ở đề tài này tác giả đi sâu hơn vào việc quản lý quá trình thực thi, thi hành chính sách BHXH; tìm hiểu mối quan hệ giữa những các bên tham gia " Bảo hiểm xã hội, họ có phải là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc.
thực hiện chính sách, cụ thể ở đây là: thái độ và hành vi của Đơn vị sử dụng. lao động, người lao động và kể cả của những những cán bộ của ngành Bảo hiểm xã hội, để góp phần đưa ra những giải pháp mới cho người thì hành chính sách có thể ứng dụng giúp cho quá trình thực thi chính sách hiệu quả hơn, giảm thiểu rủi ro trong việc thất thoát quy BHXH. 12 CHUONG 1 CO SO LY LUAN QUAN LY BAO HIEM XA HOI DOI VOL NGƯỜI LAO ĐỌNG 1. NHONG VAN DE CHUNG QUAN LY VE BAO HIEM XA HOL 1.
Những vấn đề chung về BHXH và chính sách BHXH a. BHXH ~ An sinh xã hội An sinh xã hội là một khái niệm được nêu trong Điều 22 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền phát biểu rằng: Mọi người, như một thành viên của xã hội, có quyển an sinh xã hội và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực quốc gia, hợp tác quốc tế, phù hợp với tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không thể thiếu cho nhân phẩm của mình và sự phát triển tự do của nhân cách của mình. Chính phủ Việt Nam đặt quyết tâm phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với một quốc gia có thu nhập trung bình và với các chuẩn mực quốc. tế, đâm bảo ngày cảng tốt hơn các quyển cơ bản của con người, theo Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng [08]: Đến năm 2020 cơ bản thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn.
dân với các yêu cầu: bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo.); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông. tin), góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân. Hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam được xây dựng trên nguyên lý quản lý rủi ro, đồng thời nhắn mạnh đến vai trò cung cấp dịch vụ xã hội cơ 13 bản cho người din, g6m 4 nhém chính sách cơ bản sau đây [12] ~ Nhóm chính sách việc làm đảm bảo thu nhập. ï thiểu và giảm nghờo: ~ Nhóm chính sách bảo hiểm xã hội: ~ Nhóm chính sách trợ giúp xã hội ~ Nhóm chính sách dịch vụ xã hội cơ bản (Cé thể nói Bảo hiểm xã hội là một trong những nhóm chính sách, là công cụ để nhà nước vận hành hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam.
Chính sách bảo. hiểm tốt đóng vai trò tích cực cho sự ổn định kinh tế - xã hội, mang đến trạng. thái an toàn về tỉnh thần, giảm bớt sự lo âu trước. rủi ro, bắt trắc cho người được bảo hiểm; giảm sức ép đồi với hệ thông phúc lợi xã hội.
- Bảo hiểm xã hội Có it nhiều định nghĩa về Bao hiểm xã hội, theo D. Pieters thì Bảo hiểm xã hội được hiểu với tư cách là một tổ chức được hình thành với mục đích hỗ tương giữa người với người để đối phó với sự thiếu hụt thu nhập. (chẳng hạn như thu nhập từ tiền công lao động), hoặc những tốn thất cụ thể khác; Sinfield thi dé nghị Bảo hiểm xã hội nên được định nghĩa là một cơ chế bảo đảm an toàn toàn diện cho con người chống lại sự mắt mát về vật chất; Quan điểm của Berghman cũng tương tự như thế, Berghman quan niệm rằng. Bảo xã hội là một cơ chế bảo hộ toàn diện cho con người chống lại những tổn thất vật chất; theo Giancarlo Perone thì Bảo hiểm xã hội là một hệ thống bao gồm những lợi ích và dịch vụ cung cấp cho công dân khi cần thiết, bắt kể công dân đó làm công việc gì; và theo Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế, Bảo hiểm xã hội sự bảo đảm an toàn của xã hội dành cho thành viên của nó thông qua các quy trình của hệ thống công cộng, nhằm giải toả những lo âu về kinh tế và xã hội cho thành viên.
Nói cách khác, nó góp phần giúp các thành viên trong xã hội và gia đình khắc phục sự suy giảm hoặc mắt nguồn thu nhập thực tế do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề 14 nghiệp, thất nghiệp, hưu trí, và tử tuất; đồng thời cung cắp về địch vụ y tế, trợ cấp gia đình có con nhỏ.